![]() |
| Tính đến tháng 6/2026, giá trị phát hành cổ phiếu đạt khoảng 114.000 tỉ đồng, tăng hơn 67% so với cùng kỳ năm trước. |
Phát hành chứng khoán được giao sứ mệnh mới
Sau 3 thập kỷ hình thành và phát triển, ngành Chứng khoán Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới. Nếu trước đây, phát hành cổ phiếu hay trái phiếu chủ yếu được nhìn nhận là hoạt động huy động vốn của từng doanh nghiệp, thì nay nhiệm vụ này đã được đặt trong một mục tiêu lớn hơn: Huy động nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và từng bước dịch chuyển cấu trúc vốn của nền kinh tế theo hướng bền vững.
Theo Báo cáo số 325/BC-BTC ngày 4/5/2026 của Bộ Tài chính về đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2030 giai đoạn 2021-2025, quy mô thị trường chứng khoán bình quân đạt khoảng 70,7% GDP, trong khi dư nợ thị trường trái phiếu bình quân đạt 21,6% GDP. Mặc dù chưa hoàn thành mục tiêu chiến lược đề ra, song quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu năm 2025 vẫn tăng tới 39% so với năm trước. Báo cáo cũng khẳng định thị trường tài chính Việt Nam cơ bản phát triển ổn định, hiện đại và thị trường chứng khoán đã được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp trong năm 2025.
Theo Bộ Tài chính, việc chưa đạt mục tiêu chủ yếu đến từ các yếu tố khách quan như tác động kéo dài của đại dịch Covid-19, lạm phát toàn cầu, chính sách tiền tệ thắt chặt, dòng vốn đầu tư gián tiếp suy giảm, giá cổ phiếu điều chỉnh làm giảm quy mô vốn hóa, cùng với đó là tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước và nguồn cung doanh nghiệp niêm yết mới còn chậm.
Tuy nhiên, chính những “điểm nghẽn” này cũng là cơ sở để hàng loạt chính sách mới được ban hành trong thời gian qua với mục tiêu xuyên suốt là mở rộng khả năng huy động vốn qua thị trường.
Đối với cổ phiếu, Nghị định 245/2025/NĐ-CP được ban hành theo hướng khuyến khích doanh nghiệp thực hiện IPO gắn với niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán, góp phần mở rộng quy mô thị trường và gia tăng nguồn hàng chất lượng. Đối với trái phiếu, Nghị định 200/2026/NĐ-CP tiếp tục tháo gỡ nhiều vướng mắc về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, tạo điều kiện để doanh nghiệp huy động vốn trung và dài hạn nhưng vẫn nâng cao yêu cầu minh bạch, giám sát và bảo vệ nhà đầu tư.
Sự đồng bộ này cho thấy định hướng của cơ quan quản lý không chỉ dừng ở việc khơi thông một kênh huy động vốn riêng lẻ, mà đang từng bước hình thành một hệ sinh thái phát hành chứng khoán hoàn chỉnh, nơi cổ phiếu và trái phiếu bổ trợ cho nhau trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Những kết quả ban đầu đã phản ánh khá rõ hiệu quả của chính sách. Theo báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đến tháng 6/20026 đã đạt khoảng 82,3% GDP, cao hơn đáng kể so với mức bình quân giai đoạn trước.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, giá trị phát hành cổ phiếu đạt khoảng 114.000 tỉ đồng, tăng hơn 67% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt gần 149.000 tỉ đồng, tương đương cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, trên cơ sở nghị quyết đại hội đồng cổ đông đã được thông qua, các doanh nghiệp dự kiến huy động thêm khoảng 420.400 tỷ đồng trong phần còn lại của năm 2026.
Theo Chủ tịch UBCKNN Vũ Thị Chân Phương, những con số này phản ánh nhu cầu mở rộng đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam đang tiếp tục được củng cố.
Tạo vốn và cả sức bật cho doanh nghiệp
Tại buổi làm việc với UBCKNN về định hướng phát triển thị trường chứng khoán hồi tháng 5/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, thị trường chứng khoán cần phát huy mạnh mẽ vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế. Theo định hướng, thị trường chứng khoán được giao nhiệm vụ huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng cho khu vực doanh nghiệp và từ 3,6-4,6 triệu tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, cao gấp khoảng 1,95-2,2 lần so với giai đoạn trước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho rằng, đây là nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi vừa duy trì thị trường vận hành ổn định, an toàn, minh bạch, vừa phải đổi mới tư duy để phát triển thị trường. Mọi giải pháp đều cần được tính toán kỹ lưỡng, đi kèm phương án quản trị rủi ro phù hợp. Đồng thời, Bộ trưởng yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn; đẩy mạnh IPO gắn với niêm yết, phát hành thêm cổ phiếu, thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu huy động vốn của nền kinh tế.
![]() |
| Thiết kế có sự hỗ trợ của AI. |
Ở góc độ chuyên gia, nhiều ý kiến cũng nhận định, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tái cân bằng cấu trúc tài chính, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Theo TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn tín dụng. Hệ thống ngân hàng có lợi thế trong cung ứng vốn ngắn và trung hạn, nhưng khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng, chuyển đổi số hay đổi mới sáng tạo - những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn và thời gian thu hồi dài. Vì vậy, thị trường vốn cần phát triển cân bằng hơn với thị trường tiền tệ, trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực của nền kinh tế.
Đồng quan điểm, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, cho rằng một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững không thể chỉ dựa vào một kênh cung ứng vốn. Phát triển đồng bộ thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các định chế đầu tư dài hạn sẽ giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khi mục tiêu huy động vốn qua thị trường chứng khoán đã được nâng lên gần gấp đôi so với giai đoạn trước, phát hành chứng khoán không còn đơn thuần là một nghiệp vụ tài chính của doanh nghiệp. Đây đang trở thành một trong những công cụ quan trọng để khơi thông nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, hiện thực hóa mục tiêu huy động hàng triệu tỷ đồng vốn trung và dài hạn cho khu vực doanh nghiệp trong giai đoạn 2026-2030.



