Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cải cách quản lý tài chính, tạo động lực mới cho Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp

Việc ban hành Thông tư số 60/2026/TT-BTC đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong cơ chế quản lý tài chính đối với Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026-2030. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Trần Thị Quỳnh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Kinh tế ngành (Bộ Tài chính), đã chia sẻ về những cải cách nổi bật của Thông tư và kỳ vọng nâng cao hiệu quả triển khai Chương trình trong giai đoạn mới.

bà Trần Thị Quỳnh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Kinh tế ngành (Bộ Tài chính)
Bà Trần Thị Quỳnh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Kinh tế ngành (Bộ Tài chính).

Phóng viên: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 được xây dựng theo hướng tích hợp 3 chương trình trước đây. Bối cảnh đó đặt ra những yêu cầu như thế nào đối với cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn ngân sách nhà nước thưa bà?

Phó Vụ trưởng Trần Thị Quỳnh Nga: Có thể nói, điểm khác biệt mang tính căn bản của giai đoạn 2026-2030 nằm ngay ở cách thức tổ chức Chương trình. Nếu như giai đoạn 2021-2025 chúng ta vận hành song song 3 Chương trình mục tiêu quốc gia độc lập - gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi - thì sang giai đoạn mới, theo Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội, 3 mục tiêu này được hợp nhất, tích hợp lại thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia thống nhất. Sự thay đổi tưởng chừng chỉ là về mặt tổ chức, nhưng thực chất đặt ra hàng loạt yêu cầu mới, cao hơn đối với công tác quản lý, sử dụng kinh phí chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, giảm sự trùng lắp về đối tượng, mục tiêu, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn.

Thứ nhất, yêu cầu về tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống văn bản hướng dẫn. Ở giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực kinh phí chi thường xuyên của cả 3 Chương trình về cơ bản đã được hướng dẫn chung tại Thông tư số 55/2023/TT-BTC, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 75/2024/TT-BTC và Thông tư số 112/2025/TT-BTC. Tuy nhiên, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hệ thống văn bản trở nên khá phức tạp; đồng thời nhiều quy định được xây dựng trên nền tảng pháp luật cũ, đến nay không còn phù hợp khi 3 Chương trình chính thức được tích hợp thành 1 và khung pháp luật về ngân sách đã thay đổi căn bản. Vì vậy, đòi hỏi tất yếu là phải có một văn bản hướng dẫn mới, thống nhất, bao quát được toàn bộ các nội dung, nội dung thành phần của Chương trình tích hợp, để cán bộ chỉ cần tra cứu một văn bản là có thể nắm và áp dụng được.

Thứ hai, yêu cầu về việc bảo đảm không chồng lấn, không trùng lặp khi tích hợp nhiều mục tiêu trên cùng một địa bàn. Khi gộp 3 Chương trình thành 1 sẽ có những nội dung, những hoạt động giao thoa nhau, chẳng hạn cùng là hỗ trợ phát triển sản xuất, cùng là đào tạo nâng cao năng lực, cùng là truyền thông tại cộng đồng, sẽ phải kết hợp lại để giảm số cuộc hội nghị, hội thảo, đào tạo, tập huấn có nội dung, địa điểm, đối tượng trùng lắp, tương tự nhau.

Thứ ba, yêu cầu về sự tương thích với khung pháp lý hoàn toàn mới. Giai đoạn này, chúng ta triển khai trong 1 nền tảng pháp luật đã được đổi mới một cách căn bản: Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, Nghị định số 73/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật, và đặc biệt là Nghị định số 358/2025/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia; Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt CTMTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030.

Thứ tư, yêu cầu về việc đề cao tính chủ động của địa phương. Tinh thần xuyên suốt của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 và Nghị quyết số 257/2025/QH15 là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương trong bố trí và sử dụng nguồn lực. Điều này đặt ra yêu cầu cơ chế quản lý kinh phí phải vừa đủ chặt chẽ để kiểm soát, vừa đủ linh hoạt để địa phương có thể chủ động quyết định phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn mình, hướng đến sử dụng kinh phí hiệu quả nhất thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Chính từ nhận thức đầy đủ về những yêu cầu nêu trên, ngay khi được Chính phủ giao nhiệm vụ tại Nghị quyết số 424/NQ-CP, Bộ Tài chính đã chủ động bắt tay xây dựng Thông tư số 60/2026/TT-BTC với mục tiêu cao nhất là tháo gỡ những vướng mắc của giai đoạn trước, tạo ra một cơ chế tài chính thống nhất, minh bạch, dễ áp dụng và sát với thực tiễn.

Phóng viên: Theo bà, đâu là những điểm mới nổi bật của Thông tư số 60/2026/TT-BTC trong quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí chi thường xuyên thực hiện Chương trình?

Phó Vụ trưởng Trần Thị Quỳnh Nga: Nếu phải chọn một từ khóa để nói về Thông tư số 60/2026/TT-BTC, thì đó chính là tinh thần cải cách. Khác với cách tiếp cận trước đây thiên về quy định chi tiết, cầm tay chỉ việc cho từng hoạt động, lần này Bộ Tài chính chủ trương thiết kế Thông tư theo một triết lý mới, đặt trên 3 trụ cột: mạnh dạn phân cấp cho địa phương; bám sát thực tiễn, tiếp thu kiến nghị của các bộ, ngành, địa phương và gắn chặt việc chi tiêu với kết quả đầu ra. Đây không chỉ là những điểm mới về mặt kỹ thuật, mà thực sự là sự thay đổi về tư duy quản lý tài chính đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Đối với trụ cột thứ nhất, tinh thần phân cấp được thể hiện khá rõ trong cách thiết kế Thông tư. Theo đó, Trung ương tập trung vào vai trò định khung, còn việc quyết định mức chi cụ thể được giao nhiều hơn cho địa phương, phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng địa bàn. Cụ thể, cơ quan phê duyệt ở địa phương được quyết định mức hỗ trợ cho từng dự án, kế hoạch, phương án, mô hình trong phạm vi định mức do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Đối với những nội dung, mức chi chưa được quy định ở văn bản hiện hành, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định nội dung và mức chi cụ thể, trên cơ sở hướng dẫn của chủ nội dung thành phần và khả năng cân đối của ngân sách địa phương. Cách thiết kế này nhằm tạo thêm sự chủ động cho địa phương trong tổ chức thực hiện, đồng thời cũng nhận được sự đồng thuận của các bộ, ngành, địa phương trong quá trình lấy ý kiến xây dựng Thông tư.

Về trụ cột thứ hai, điểm đáng chú ý nằm ở chính cách thức xây dựng Thông tư. Bộ Tài chính xác định văn bản chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi xuất phát từ những vướng mắc của cơ sở. Vì vậy, trong quá trình soạn thảo, Bộ đã chủ động tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, tổ chức hội thảo và nghiêm túc tiếp thu các kiến nghị từ các bộ quản lý ngành, các địa phương và các cơ quan trong ngành Tài chính.

Nhiều quy định trong Thông tư là kết quả của quá trình tiếp thu đó. Chẳng hạn, trên cơ sở kiến nghị từ địa phương, Thông tư đã bổ sung nguyên tắc cho phép lựa chọn áp dụng chính sách có mức hỗ trợ cao nhất và không hỗ trợ, quyết toán trùng lặp, bảo đảm người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xã, thôn đặc biệt khó khăn được hưởng mức hỗ trợ tốt nhất. Tiếp thu ý kiến nhằm tăng cường minh bạch, Thông tư cũng bổ sung yêu cầu ghi rõ số định danh cá nhân, số căn cước công dân của người đại diện hộ gia đình để minh bạch hóa đối tượng thụ hưởng. Có thể nói, các quy định đều được cân nhắc trên tinh thần bám sát thực tiễn và tháo gỡ khó khăn cho cơ sở.

Về trụ cột thứ ba, cải cách không chỉ là cởi trói, mà còn phải đi kèm với kỷ luật, kỷ cương. Vì vậy, song hành với việc phân cấp mạnh và bám sát thực tiễn, Thông tư đặt ra yêu cầu xuyên suốt là kinh phí phải tạo ra kết quả thực chất. Việc sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên phải gắn với kết quả đầu ra, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí; một nội dung, nhiệm vụ đã được quyết toán từ nguồn kinh phí khác thì không được quyết toán lại từ nguồn của Chương trình.

Đi liền với đó là việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu: thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phải quyết định việc chi tiêu trong phạm vi dự toán được giao và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Như vậy, địa phương được trao quyền nhiều hơn nhưng trách nhiệm giải trình cũng cao hơn tương ứng - quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, đúng theo tinh thần quản lý ngân sách hiện đại.

Có thể nói, 3 trụ cột này gắn kết chặt chẽ và bổ trợ cho nhau: phân cấp để địa phương chủ động, bám sát thực tiễn để quy định thực sự khả thi, và gắn kết quả đầu ra để bảo đảm hiệu quả. Đó chính là tinh thần cải cách mà Bộ Tài chính muốn lan tỏa qua Thông tư số 60/2026/TT-BTC.

Phóng viên: Quy định không hỗ trợ hoặc quyết toán trùng lặp và yêu cầu việc sử dụng kinh phí phải gắn với kết quả đầu ra sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện Chương trình, thưa bà?

Phó Vụ trưởng Trần Thị Quỳnh Nga: Đây là 2 nguyên tắc mà Bộ Tài chính đặc biệt coi trọng, bởi nó chạm tới cốt lõi của việc quản lý, sử dụng tiền ngân sách sao cho thực sự hiệu quả, tiết kiệm và minh bạch.

Về nguyên tắc không hỗ trợ, quyết toán trùng lặp, Thông tư quy định rất rõ tại Điều 2 và Điều 3: trường hợp cùng một đối tượng, cùng một địa bàn hoặc cùng một dự án, mô hình mà đủ điều kiện hưởng nhiều chính sách hỗ trợ có cùng nội dung thì được lựa chọn áp dụng chính sách có mức hỗ trợ cao nhất; tuyệt đối không thực hiện hỗ trợ, quyết toán trùng lặp cùng một nội dung từ nhiều nguồn kinh phí ngân sách nhà nước.

Đồng thời, việc huy động, lồng ghép các nguồn vốn phải bảo đảm không làm trùng lặp đối tượng, nhiệm vụ chi hoặc vượt định mức, tiêu chuẩn hỗ trợ. Cách thiết kế này vừa bảo đảm người dân, đối tượng thụ hưởng luôn được hưởng mức hỗ trợ tốt nhất, vừa ngăn ngừa tình trạng một công việc lại được bố trí kinh phí từ nhiều ngả, gây lãng phí nguồn lực. Như tôi đã đề cập, đây cũng chính là một trong những nội dung Bộ Tài chính tiếp thu từ kiến nghị thực tế của địa phương.

Thông tư số 60/2026/TT-BTC tài chính
Thông tư số 60/2026/TT-BTC đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong cơ chế quản lý tài chính đối với Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026-2030. Ảnh: internet.

Về nguyên tắc gắn kinh phí với kết quả đầu ra, Thông tư yêu cầu các cơ quan, đơn vị được phân bổ, giao dự toán phải chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng và quyết toán đúng quy định; bảo đảm sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên hiệu quả, gắn với kết quả đầu ra, tránh thất thoát, lãng phí. Đặc biệt, một nội dung, nhiệm vụ, hoạt động đã được quyết toán từ nguồn kinh phí của các chương trình, đề án, dự án khác thì không được quyết toán lại từ nguồn kinh phí của Chương trình này.

Tác động của 2 nguyên tắc này thể hiện trên hai phương diện:

Một là, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Khi mỗi đồng ngân sách chỉ được bố trí cho một mục tiêu rõ ràng, không bị phân tán, trùng lặp, thì nguồn lực vốn không lớn sẽ được tập trung, sử dụng đúng chỗ, đúng đối tượng, tránh dàn trải và phát huy được hiệu quả cao nhất. Đây cũng là điều kiện để bảo đảm tính minh bạch trong xác định đối tượng thụ hưởng, hạn chế nguy cơ trục lợi chính sách, trục lợi ngân sách nhà nước.

Hai là, đề cao trách nhiệm và tính giải trình của người đứng đầu. Thông tư quy định thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ phải quyết định việc chi tiêu trong phạm vi dự toán được giao, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Việc gắn kinh phí với kết quả đầu ra buộc mỗi cơ quan, đơn vị phải tính toán kỹ lưỡng, chi cho đúng việc và phải chứng minh được kết quả. Như vậy, trách nhiệm được gắn trực tiếp với từng cấp, từng người, không còn tình trạng “cha chung không ai khóc”.

Hai nguyên tắc này cùng hướng tới một mục tiêu nhất quán: Bảo đảm từng đồng ngân sách nhà nước phải tạo ra kết quả thực chất, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, đồng thời nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính trong toàn bộ quá trình thực hiện Chương trình.

Phóng viên: Một trong những định hướng lớn của Thông tư là tăng tính chủ động cho địa phương. Theo bà, những cơ chế nào sẽ giúp địa phương linh hoạt hơn trong bố trí, quản lý và sử dụng kinh phí, đồng thời vẫn bảo đảm công khai, minh bạch?

Phó Vụ trưởng Trần Thị Quỳnh Nga: Tăng tính chủ động cho địa phương là một trong những định hướng lớn, xuyên suốt quá trình xây dựng Thông tư, hoàn toàn phù hợp với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 và Nghị quyết số 257/2025/QH15. Tại Hội thảo lấy ý kiến với sự tham gia của nhiều bộ, ngành và địa phương, định hướng này đã nhận được sự đồng thuận, nhất trí cao. Bộ Tài chính đã cụ thể hóa định hướng đó bằng nhiều cơ chế trong Thông tư.

Thứ nhất, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương quyết định mức hỗ trợ cụ thể. Đối với các dự án, kế hoạch, phương án, mô hình thuộc Chương trình, Thông tư quy định cơ quan phê duyệt ở địa phương được quyền quyết định mức hỗ trợ cụ thể cho từng dự án, kế hoạch, phương án, mô hình, miễn là không vượt quá định mức hỗ trợ đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Như vậy, địa phương được “tự quyết” trong khung đã được xác lập, bảo đảm sát với điều kiện, đặc điểm thực tế của từng dự án, từng địa bàn.

Thứ hai, trao quyền thực chất cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đây là điểm linh hoạt rất quan trọng. Đối với những nội dung chi, mức chi mà các văn bản hiện hành chưa quy định, Thông tư cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh - căn cứ hướng dẫn của chủ nội dung thành phần, khả năng cân đối của ngân sách địa phương và mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương được quyết định nội dung và mức chi cụ thể phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh còn được quyết định hoặc phân cấp quyết định mức chi cao hơn trong khả năng cân đối của ngân sách địa phương, để phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn. Cơ chế này giúp địa phương không bị “bó tay” khi gặp những việc mới phát sinh từ thực tiễn.

Thứ ba, thiết lập cơ chế xử lý các khoản chi đặc thù phát sinh. Trong quá trình triển khai, nếu có khoản chi đặc thù chưa được quy định trong các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Thông tư này, thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025. Đây là một “van” linh hoạt rất cần thiết, bảo đảm Chương trình không bị gián đoạn chỉ vì chưa có quy định cho một khoản chi cụ thể nào đó.

Tuy nhiên, linh hoạt không có nghĩa là buông lỏng. Đi đôi với việc trao quyền chủ động, Thông tư thiết kế đồng bộ các “vành đai” kiểm soát để bảo đảm công khai, minh bạch và sử dụng đúng mục đích nguồn ngân sách. Cụ thể: mọi quyết định của địa phương đều phải nằm trong khung định mức do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao; phải tuân thủ pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đấu thầu và pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Việc hỗ trợ hộ gia đình phải được lập bảng kê đầy đủ, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người đại diện, có xác nhận của tổ chức chi trả. Việc thanh toán đều được thực hiện qua Kho bạc Nhà nước theo đúng quy định. Như vậy, phân cấp luôn đi cùng với công khai, minh bạch và kiểm soát chặt chẽ.

Phóng viên: Với những đổi mới mạnh mẽ như vậy, bà kỳ vọng Thông tư số 60/2026/TT-BTC sẽ tạo ra những chuyển biến như thế nào trong việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026-2030?

Phó Vụ trưởng Trần Thị Quỳnh Nga: Chúng tôi kỳ vọng Thông tư số 60/2026/TT-BTC sẽ góp phần tạo chuyển biến tích cực trong cả tiến độ giải ngân và chất lượng triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Trước hết, việc xây dựng một cơ chế hướng dẫn thống nhất cho Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp sẽ giúp các bộ, ngành, địa phương thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thực hiện, hạn chế tình trạng phải đối chiếu nhiều văn bản. Cùng với đó, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền chủ động hơn cho địa phương sẽ góp phần rút ngắn thời gian triển khai, tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục, từ đó thúc đẩy tiến độ phân bổ, sử dụng và giải ngân nguồn kinh phí.

Quan trọng hơn, chúng tôi mong muốn những thay đổi về cơ chế tài chính sẽ không chỉ giúp giải ngân nhanh hơn mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Thông tư được thiết kế theo hướng mỗi khoản chi phải gắn với mục tiêu, kết quả đầu ra cụ thể; tăng cường trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, tránh chồng chéo, trùng lặp trong bố trí và sử dụng nguồn lực. Đây là những yếu tố quan trọng để từng đồng ngân sách phát huy giá trị cao nhất.

Khi được triển khai thông suốt, thống nhất, các nguồn lực sẽ được sử dụng đúng mục tiêu, đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả hơn; góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Qua đó nâng cao đời sống của người dân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền.

Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện; thường xuyên theo dõi, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc phát sinh để kịp thời hướng dẫn hoặc nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế, chính sách khi cần thiết, bảo đảm Thông tư thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả cao nhất.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn bà!

Trần Huyền (thực hiện)
Thích

Tin liên quan

Video