Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, thách thức dồn về cuối năm

Lợi nhuận ngành ngân hàng tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026, nhưng một phần kết quả đến từ những nguồn thu khó lặp lại, trong khi áp lực huy động, biên lãi và chất lượng tài sản ngày càng rõ hơn.

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, thách thức dồn về cuối năm
Lợi nhuận nhiều ngân hàng vượt kỳ vọng so với dự báo. Ảnh minh họa: AI

Lợi nhuận lập mặt bằng mới

Theo Báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026 ngành ngân hàng của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lợi nhuận trước thuế quý II của 27 ngân hàng niêm yết đạt gần 111.000 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ và 18% so với quý trước.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng thu nhập hoạt động vượt 407.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 205.000 tỷ đồng, tăng 20%; toàn ngành hoàn thành khoảng 47% kế hoạch lợi nhuận năm.

Kết quả chung tích cực, nhưng khoảng cách giữa các nhóm ngân hàng đã mở rộng. Nhóm có quy mô lớn, nền khách hàng rộng, năng lực vốn và huy động tốt tiếp tục giữ ưu thế. Trong khi đó, một số ngân hàng nhỏ tăng trưởng bằng lần nhưng chủ yếu nhờ nền lợi nhuận thấp, còn nhóm quy mô trung bình gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chuyển tăng trưởng tín dụng và doanh thu thành lợi nhuận.

Trong 30 ngân hàng được thống kê, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với 29.222 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 33,5% so với cùng kỳ. VietinBank đứng thứ hai với 25.878 tỷ đồng, tăng 36,8%.

MB xếp thứ ba với 20.188 tỷ đồng, tăng 27,1%, tiếp tục là ngân hàng ngoài quốc doanh có lợi nhuận cao nhất. Phía sau MB là nhóm bám đuổi sát nhau, gồm BIDV đạt 18.905 tỷ đồng, VPBank đạt 18.900 tỷ đồng, Agribank đạt 18.821 tỷ đồng và Techcombank đạt 18.500 tỷ đồng.

Theo VDSC, lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh tăng 30% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 14% của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn.

Nhóm quy mô trung bình giảm 7%, trong khi nhóm nhỏ tăng 60% nhưng chủ yếu do nền so sánh thấp. Nhóm quốc doanh đã hoàn thành khoảng 52% kế hoạch năm, nhóm ngân hàng lớn hoàn thành 46%, còn nhóm trung bình mới đạt 35%.

Sự vượt trội của nhóm dẫn đầu không chỉ đến từ mở rộng tín dụng. Báo cáo của VDSC cho biết, thu nhập lãi thuần toàn ngành trong 6 tháng tăng khoảng 17%; thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 49.000 tỷ đồng, tăng 58%; thu nhập khác đạt hơn 28.000 tỷ đồng, tăng 31%. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập giảm từ 32,1% năm 2025 xuống 31,1%.

Cơ cấu tăng trưởng này thể hiện khá rõ tại một số ngân hàng. Techcombank đạt 18.500 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 22,2%, trong đó thu nhập dịch vụ tăng 37,6%; riêng thu từ thư tín dụng, tiền mặt và thanh toán tăng hơn 152%.

SHB chỉ tăng 1,6% về lợi nhuận nhưng lãi thuần từ dịch vụ tăng 277%. VIB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động tăng 16%, với nguồn thu ngoài lãi chiếm 22%.

Báo cáo của VDSC đánh giá, thu nhập ngoài lãi là trụ đỡ quan trọng thứ hai của lợi nhuận ngân hàng trong nửa đầu năm. Tổng nguồn thu này đạt hơn 92.000 tỷ đồng, tăng 18%; hoạt động dịch vụ được dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn và nhóm quy mô trung bình.

Các điểm sáng về thu nhập phí gồm VIB, SHB, Sacombank, VPBank, Techcombank, Nam A Bank, LPBank và VietinBank. Ngược lại, Eximbank và MSB ghi nhận sự suy giảm đáng chú ý.

Tuy nhiên, chất lượng nguồn thu ngoài lãi không đồng đều. Bên cạnh các khoản phí ổn định từ thanh toán, bảo hiểm và tài trợ thương mại, một phần tăng trưởng đến từ thu hồi nợ, thoái vốn, đánh giá lại khoản đầu tư hoặc những khoản thu mang tính một lần. Vì vậy, mức đóng góp cao trong một kỳ chưa chắc trở thành nền tảng lợi nhuận bền vững.

Thực tế, doanh thu tăng chưa chắc kéo lợi nhuận tăng tương ứng. ACB đạt 10.700 tỷ đồng, gần như đi ngang với mức tăng 0,1%, dù thu nhập lãi thuần tăng 13,3% và thu nhập dịch vụ tăng gần 25%. VIB chỉ tăng lợi nhuận 3,3%, còn TPBank không thay đổi so với cùng kỳ.

Tại LPBank, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng hơn 10%, nhưng chi phí dự phòng tăng gấp 2,3 lần khiến lợi nhuận trước thuế giảm 3,1%. Điều này cho thấy, phần tăng thêm của doanh thu tại một số ngân hàng đã bị hấp thụ bởi chi phí vốn, chi phí hoạt động hoặc dự phòng rủi ro.

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, thách thức dồn về cuối năm
Nguồn: VDSC

Chất lượng lợi nhuận chịu thử thách

Ở nhóm quy mô nhỏ, tốc độ tăng trưởng cao tạo ra những con số đáng chú ý. BVBank đạt 547 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng gần 5,9 lần cùng kỳ. ABBank đạt 3.016 tỷ đồng, tăng 109,2%; Vietbank đạt 944 tỷ đồng, tăng 83,4%; PGBank đạt 440 tỷ đồng, tăng 65,7%; NCB đạt 727 tỷ đồng, tăng 57%.

GPBank công bố lợi nhuận hơn 730 tỷ đồng, tăng trên 780% so với cùng kỳ và cao hơn kết quả cả năm 2025. Tuy nhiên, mức tăng của GPBank và BVBank cần được đặt trong tương quan với nền lợi nhuận thấp. Dù dẫn đầu về tỷ lệ tăng trưởng, lợi nhuận của BVBank vẫn chỉ xếp thứ 27 trong số 30 ngân hàng được thống kê.

Ở chiều ngược lại, 5 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận giảm. Saigonbank giảm sâu nhất, mất 72,6%, chỉ còn 48 tỷ đồng và lỗ trước thuế 40 tỷ đồng trong quý II. SeABank đạt 2.625 tỷ đồng, giảm 54,6%; Eximbank đạt 678 tỷ đồng, giảm 54,5%; Sacombank đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6%; LPBank giảm 3,1%, còn 5.973 tỷ đồng.

Theo VDSC, trong nhóm ngân hàng lớn được theo dõi, Vietcombank, VPBank, MB và HDBank có lợi nhuận quý II vượt dự báo. MSB thấp hơn dự báo do thu nhập ngoài lãi không đạt kỳ vọng; ACB thấp hơn do chi phí dự phòng cao hơn dự kiến, còn OCB, VIB và VietinBank cũng thấp hơn nhẹ so với dự phóng.

Những diễn biến này cho thấy chất lượng lợi nhuận sẽ trở thành tiêu chí quan trọng hơn trong nửa cuối năm. Ngân hàng tăng trưởng dựa trên thu nhập lãi, phí dịch vụ ổn định và kiểm soát chi phí tốt sẽ có nền tảng bền vững hơn những đơn vị phụ thuộc vào khoản thu bất thường hoặc giảm dự phòng.

Báo cáo Tâm điểm ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2026 của FiinRatings cách đây không lâu từng dự báo, biên lãi ròng của ngành có thể tiếp tục chịu sức ép do chi phí vốn tăng và lợi suất cho vay thu hẹp. Lợi thế được dự báo nghiêng về các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao, cơ cấu khách hàng đa dạng và nguồn thu dịch vụ tốt. Ngược lại, nhóm phụ thuộc nhiều vào tiền gửi có kỳ hạn hoặc vốn bán buôn có thể phải chịu chi phí huy động cao hơn, làm hạn chế khả năng chuyển tăng trưởng tín dụng thành lợi nhuận.

Rủi ro chất lượng tài sản cũng cần được theo dõi. Khi tín dụng tăng nhanh, tỷ lệ nợ xấu có thể được pha loãng về mặt số học. Tuy nhiên, nếu tốc độ tăng tín dụng chậm lại trong nửa cuối năm, áp lực nợ xấu và chi phí dự phòng có thể bộc lộ rõ hơn. Hơn nữa, tín dụng tăng nhanh hơn huy động khiến các ngân hàng phải cạnh tranh tiền gửi, duy trì lãi suất đủ hấp dẫn hoặc tăng sử dụng các nguồn vốn thay thế như giấy tờ có giá và vốn liên ngân hàng.

Các áp lực này chưa làm đảo chiều bức tranh kinh doanh nửa đầu năm, nhưng sẽ quyết định khả năng duy trì tăng trưởng của từng ngân hàng. Nhóm có bộ đệm vốn tốt, nguồn vốn đa dạng, khả năng tạo thu nhập phí ổn định và chất lượng tài sản được kiểm soát sẽ tiếp tục có lợi thế. Ngược lại, những ngân hàng tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào tín dụng, huy động kỳ hạn ngắn hoặc nguồn thu bất thường có thể đồng thời chịu áp lực từ chi phí vốn và chi phí dự phòng.

Hương Dịu
Thích

Tin liên quan

Video