![]() |
USD ngân hàng giảm ngược chiều tỷ giá trung tâm
Thị trường ngoại tệ sáng 16/9/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa tỷ giá trung tâm và giá USD tại các ngân hàng thương mại.
Từ phiên trước đến nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục thiết lập mức cao mới từ trước đến nay. Ngày 16/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.626 VND/USD, tăng 9 đồng so với ngày 15/9. Với biên độ +/-5%, tỷ giá USD được phép giao dịch trong khoảng 24.345 - 26.907 VND/USD.
So với mức 25.121 VND/USD ngày 2/1/2026, tỷ giá trung tâm đã tăng 505 đồng, tương đương khoảng 2,01% từ đầu năm.
Trong khi tỷ giá trung tâm đi lên, giá USD tại các ngân hàng thương mại lại giảm. Tính đến 9 giờ, Vietcombank niêm yết giá USD ở mức 25.770 - 26.180 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 30 đồng ở cả hai chiều so với sáng 15/9.
Tại BIDV, giá USD ở mức 25.800 - 26.180 VND/USD (mua vào - bán ra), ACB ở mức 25.770 - 26.180 VND/USD (mua vào - bán ra); giá USD loại trên 50 USD, mua chuyển khoản được Techcombank niêm yết ở mức 25.805 - 26.170 VND/USD (mua vào - bán ra)...
Trên thị trường quốc tế, USD vẫn duy trì sức mạnh trước thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố quyết định chính sách tiền tệ. Chỉ số DXY dao động quanh 99,68 điểm, gần mức cao nhất hai tuần. Thị trường hiện nghiêng mạnh về khả năng Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản.
Theo báo cáo chiến lược tuần của Yuanta Việt Nam, thị trường hiện tập trung sự chú ý vào cuộc họp FOMC ngày 16/9, sau giai đoạn Fed duy trì lãi suất ở mức 3,50-3,75%.
Yuanta cho rằng, dữ liệu lạm phát của Mỹ đang củng cố quan điểm thắt chặt hơn của Fed. Trong tháng 8, chỉ số giá sản xuất (PPI) của Mỹ tăng 0,4% so với tháng trước và 5,4% so với cùng kỳ, cao hơn mức dự báo 5,3%; PPI lõi tăng 0,2% so với tháng trước và 4,6% so với cùng kỳ. Theo Yuanta, PPI chung cao hơn dự báo đã khiến thị trường gia tăng kỳ vọng Fed duy trì lộ trình chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.
Báo cáo kinh tế vĩ mô tháng 9/2026 của MBS Research cho rằng, VND thời gian tới vẫn được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất trong nước cao, dòng vốn FDI tích cực và kỳ vọng thâm hụt thương mại thu hẹp dần vào cuối năm. Ngược lại, giá dầu trên 100 USD/thùng, khả năng Fed tăng lãi suất và các rủi ro từ chính sách thuế quan của Mỹ vẫn có thể gây áp lực lên tỷ giá.
MBS Research dự báo tỷ giá USD/VND cuối năm 2026 có thể dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD, tương ứng tăng khoảng 2-2,8% so với đầu năm.
Lãi suất cao kéo dòng tiền trở lại hệ thống ngân hàng
Hiện nay, mặt bằng lãi suất cao đã bắt đầu giúp tốc độ huy động vốn cải thiện. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô của MBS Research, trong tháng 8, có 7/16 ngân hàng được MBS theo dõi điều chỉnh tăng lãi suất huy động, với mức tăng khoảng 0,1-0,5 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 6-24 tháng.
![]() |
Nhờ mặt bằng lãi suất neo cao, huy động vốn đã tăng nhanh hơn tín dụng trong tháng 8. Tính đến ngày 18/8, dư nợ tín dụng toàn hệ thống chỉ tăng 0,2% so với cuối tháng 7, trong khi huy động vốn tăng khoảng 1%.
Tuy nhiên, khoảng cách tích lũy từ đầu năm vẫn chưa được xóa bỏ. So với cuối năm 2025, tín dụng toàn hệ thống tăng 9,2%, trong khi huy động mới tăng 7,37%. Theo MBS Research, chênh lệch này vẫn tạo áp lực nhất định lên mặt bằng lãi suất.
Diễn biến trên thị trường liên ngân hàng cũng cho thấy áp lực thanh khoản đã giảm so với thời điểm cuối tháng 8. Sau khi xuống đáy một tháng ở mức 1,2% ngày 27/8 rồi bật lên khoảng 7% vào cuối tháng do yếu tố mùa vụ, lãi suất qua đêm đến ngày 15/9 đã hạ về vùng 4%. Các kỳ hạn từ một tuần đến một tháng dao động khoảng 4,8-6,2%, trong khi kỳ hạn 6 tháng ở mức 8,2%.
Ở thị trường tiền gửi dân cư, khoảng cách giữa lãi suất thông thường và những mức lãi suất đặc biệt vẫn rất lớn.
PVcomBank đang đưa ra mức 10%/năm cho kỳ hạn 12-13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ, nhưng khách hàng phải gửi tại quầy từ 2.000 tỷ đồng. Nếu gửi theo điều kiện thông thường, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của ngân hàng này chỉ ở mức 5,3%/năm.
MSB có mức đặc biệt 9%/năm cho kỳ hạn 12 hoặc 13 tháng, áp dụng với sổ tiết kiệm đáp ứng điều kiện và số dư tối thiểu 500 tỷ đồng. HDBank cũng có mức đặc biệt 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 7,6%/năm cho kỳ hạn 13 tháng với khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng.
Với khách hàng thông thường, mức lãi suất cao tập trung nhiều hơn ở vùng 6-7%/năm. Ở kỳ hạn 6 tháng, Sacombank đang niêm yết 7,2%/năm; BAC A BANK 7,05%/năm; VCBNeo, LPBank và MBV cùng 7%/năm; PGBank và SaigonBank cùng 6,9%/năm.
Kỳ hạn 12 tháng ghi nhận Sacombank ở mức 7,5%/năm; LPBank và SaigonBank cùng 7,2%/năm; BAC A BANK 7,1%/năm; VCBNeo, MBV, PGBank và VIB cùng 7%/năm.
Cake by VPBank niêm yết lãi suất lĩnh cuối kỳ 7,2%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và 7,4%/năm cho kỳ hạn 10-24 tháng. Với các chương trình cộng thêm 2%/năm và đáp ứng đầy đủ điều kiện, lãi suất thực nhận có thể đạt 9,2%/năm ở kỳ hạn 6-9 tháng và 9,4%/năm ở một số kỳ hạn dài hơn.
* Lãi suất trên mang tính tham khảo tại thời điểm khảo sát và có thể thay đổi tùy theo số tiền gửi, kỳ hạn, hình thức gửi và chính sách của từng ngân hàng.




