Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kiểm soát lạm phát trong vòng xoáy giá năng lượng: Mở dư địa phối hợp tài khóa - tiền tệ (Bài 3): Giữ kỷ luật tài khóa, nâng hiệu quả dòng vốn

Những diễn biến kinh tế đầu năm 2026 cho thấy, yêu cầu phối hợp chính sách không còn dừng ở định hướng chính sách, mà đã trở thành mệnh lệnh điều hành mang tính bắt buộc.

Ảnh: Đức Thanh
Việc điều hành chính sách tiền tệ phải chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Ảnh: Đức Thanh

Không chỉ là những định hướng chính sách

Theo Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 1/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, điều hành và bình ổn giá, các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành giá nhằm kiểm soát lạm phát trong bối cảnh giá năng lượng và chi phí logistics toàn cầu biến động mạnh.

Công điện nhấn mạnh việc điều hành chính sách tiền tệ phải chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra; đồng thời quản lý thị trường ngoại hối phù hợp để ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo nhu cầu ngoại tệ hợp pháp; điều hành lãi suất và tín dụng hợp lý, xử lý nghiêm các hành vi găm giữ, thao túng thị trường ngoại tệ.

Ngay sau đó, Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 5/4/2026 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2026 và Hội nghị Chính phủ với địa phương tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm là điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ. Nghị quyết đồng thời yêu cầu tăng cường kỷ luật tài chính - ngân sách, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu và phấn đấu thu ngân sách năm 2026 vượt ít nhất 10% so với ước thực hiện năm 2025.

Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý I/2026 của Bộ Tài chính, yêu cầu phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt, chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và tiền tệ tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng.

Như vậy, vai trò phối hợp chính sách đang ngày càng được nhấn mạnh hơn. TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia tài chính công Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng đột phá, hệ thống điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, cần một sự chuyển dịch căn bản về tư duy. Chính sách tài khóa được kỳ vọng sẽ đóng vai trò là dẫn dắt thông qua đầu tư công và hạ tầng chiến lược, trong khi chính sách tiền tệ đóng vai trò là bệ đỡ ổn định, bảo đảm thanh khoản và điều tiết dòng vốn vào các lĩnh vực kinh tế mới với năng suất, chất lượng cao hơn.

Đồng quan điểm, GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, thay vì dồn toàn lực cho tăng trưởng bằng mọi giá, cần chấp nhận những điều chỉnh phù hợp. Khi chính sách tiền tệ phải ưu tiên ổn định vĩ mô và không thể quá tập trung vào tăng trưởng, chính sách tài khóa phải đóng vai trò chủ lực để giảm áp lực chi phí.

Lấy ví dụ về giá xăng dầu, GS.TS. Hoàng Văn Cường cho biết, thời gian qua, dù giá tăng, nhưng không xảy ra tình trạng khan hiếm, cho thấy hiệu quả nhất định trong điều hành. Tuy nhiên, thời gian tới vẫn cần thêm các giải pháp hỗ trợ, nhất là với những ngành chịu tác động lớn từ chi phí đầu vào, nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh không bị gián đoạn.

Định hướng mới trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh hiện nay, điều hành không còn là “mở rộng bao nhiêu”, mà là “mở rộng như thế nào”. Theo các chuyên gia, nếu tài khóa mở rộng thiếu kiểm soát, không gắn với hiệu quả chi tiêu và năng lực hấp thụ của nền kinh tế, nguy cơ gây áp lực ngược lên lạm phát và nợ công là hoàn toàn hiện hữu. Vì vậy, phối hợp chính sách không chỉ là triển khai đồng thời, mà phải được thiết kế theo hướng bổ trợ lẫn nhau, duy trì tăng trưởng bền vững.

Theo Bộ Tài chính, thời gian tới sẽ tập trung vào các giải pháp như tăng cường quản lý thu, mở rộng cơ sở thu, đẩy mạnh chuyển đổi số trong thu thuế, đồng thời tiếp tục triển khai các chính sách giảm, gia hạn thuế, phí để hỗ trợ doanh nghiệp.

Ở chiều chi ngân sách, yêu cầu đặt ra là cơ cấu lại theo hướng hiệu quả. Bộ Tài chính nhấn mạnh việc tiết kiệm chi thường xuyên, phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Đây là bước đi cần thiết để tạo dư địa tài khóa thực chất, thay vì mở rộng chi tiêu dàn trải.

Đáng chú ý, công cụ trái phiếu chính phủ tiếp tục được xác định là một trong những kênh huy động vốn chủ đạo. Việc điều hành linh hoạt về khối lượng, lãi suất và thời điểm phát hành không chỉ nhằm đảm bảo nguồn lực cho ngân sách, mà còn góp phần điều tiết thị trường tài chính.

Về vấn đề này, TS. Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam hiện vẫn có lợi thế đáng kể về dư địa tài khóa khi mức nợ công chỉ khoảng 34% GDP, thấp hơn nhiều so với nhiều quốc gia trong khu vực. Dư địa này cho phép Chính phủ tiếp tục sử dụng các công cụ tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng mà vẫn duy trì an toàn nợ công.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Bá Hùng cũng lưu ý, hiệu quả của chính sách tài khóa không phụ thuộc vào quy mô chi tiêu, mà phụ thuộc vào chất lượng đầu tư. Các khoản chi cần được định hướng vào những lĩnh vực có tác động lan tỏa cao như hạ tầng, giáo dục, đào tạo kỹ năng và khoa học - công nghệ. Khi dự án được lựa chọn đúng trọng tâm và triển khai hiệu quả, đầu tư công có thể tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh sang khu vực tư nhân và thúc đẩy tiêu dùng.

Một vấn đề khác được đặt ra là hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế vẫn còn hạn chế. Theo phân tích của TS. Nguyễn Bá Hùng, hệ số ICOR của Việt Nam hiện ở mức khoảng 6-7, cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực như Malaysia, Indonesia hay Thái Lan, nơi chỉ số này thường ở mức khoảng 3 trong giai đoạn phát triển tương tự. Điều này cho thấy, để tạo ra một đơn vị tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam vẫn phải sử dụng lượng vốn tương đối lớn. Vì vậy, dư địa cải cách không chỉ nằm ở việc huy động thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn.

Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, chính sách tài khóa cần được triển khai chủ động hơn, với trọng tâm là nâng cao hiệu quả chi tiêu, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các gói hỗ trợ có mục tiêu. Với tỷ trọng nợ trong nước chiếm hơn 70% tổng dư nợ Chính phủ, Việt Nam có nền tảng vững chắc để triển khai các gói đầu tư công quy mô lớn mà vẫn giữ được an toàn tài chính.

Thực tế cho thấy, nếu đầu tư công không được triển khai hiệu quả, vai trò “vốn mồi” sẽ không phát huy, thậm chí làm giảm hiệu quả phối hợp chính sách. Bên cạnh đó, các mô hình hợp tác công - tư (PPP) cần được cải thiện theo hướng minh bạch, chia sẻ rủi ro hợp lý để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân. Đây là cách để mở rộng dư địa tài khóa mà không làm gia tăng áp lực lên nợ công.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, điều hành chính sách không thể theo một kịch bản duy nhất, nên cần xây dựng các kịch bản điều hành phù hợp với từng giai đoạn, tăng cường cơ chế giám sát và cảnh báo để nâng cao hiệu quả phối hợp.

Nghị quyết số 89/NQ-CP yêu cầu các bộ, ngành theo dõi sát diễn biến quốc tế, chủ động phản ứng chính sách và xây dựng các phương án điều hành linh hoạt theo từng giai đoạn. Việc xây dựng các kịch bản khác nhau được xem là công cụ quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chính sách.

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho hay, để bảo đảm các kịch bản tăng trưởng trong các quý tiếp theo, cần duy trì cân đối vĩ mô và nền kinh tế phải vận hành theo “kiềng ba chân”, gồm tích lũy thông qua đầu tư, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, trong đó đầu tư công đóng vai trò vốn mồi để thu hút thêm nguồn lực xã hội và hỗ trợ duy trì đà tăng trưởng.

Nhưng dù ở kịch bản nào, yêu cầu xuyên suốt vẫn là đảm bảo sự phối hợp hài hòa giữa các chính sách. TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, nếu tài khóa mở rộng mà tiền tệ không kiểm soát tốt thanh khoản, rủi ro lạm phát sẽ gia tăng. Ngược lại, nếu tiền tệ quá thắt chặt trong khi tài khóa cần vốn để đầu tư hạ tầng, lãi suất sẽ bị đẩy lên cao, gây “lấn át” đầu tư tư nhân.

TS. Chu Thanh Tuấn, Phó chủ nhiệm nhóm ngành cử nhân kinh doanh tại Đại học RMIT Việt Nam cũng lưu ý, Việt Nam không có nhiều dư địa để theo đuổi các chính sách nới lỏng cực đoan như một số nền kinh tế lớn. Do đó, việc giữ kỷ luật tài khóa và an toàn hệ thống ngân hàng là điều kiện tiên quyết.

Một điểm quan trọng khác là kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Việc công khai, minh bạch thông tin về giá cả, chính sách điều hành và kịch bản ứng phó sẽ giúp ổn định tâm lý thị trường, qua đó giảm áp lực lên chính sách tiền tệ.

Nhìn tổng thể, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, việc kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng không thể dựa vào một công cụ chính sách đơn lẻ. Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa tài khóa và tiền tệ, nền kinh tế mới có thể vừa giữ được ổn định vĩ mô, vừa tận dụng được các cơ hội tăng trưởng trong giai đoạn mới.

(Còn tiếp)

Hương Dịu
Thích

Tin liên quan