Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi cho xác lập mô hình tăng trưởng mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng. Quy mô GDP năm 2025 đã đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành đạt khoảng 5.026 USD. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh, ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì.

PGS. TS.Bùi Quang Tuấn

Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Email:[email protected]

MỞ ĐẦU

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã bộc lộ những giới hạn rõ rệt khi bước vào kỷ nguyên mới. Tăng trưởng vẫn còn phụ thuộc lớn vào vốn và lao động. Tỷ lệ đầu tư toàn xã hội thường xuyên ở mức cao song hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng. Năng suất lao động mặc dù đã được cải thiện nhưng còn thấp trong khu vực. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp, chưa đạt kỳ vọng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển nhanh nhưng giá trị gia tăng nội địa còn thấp, khu vực FDI chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, trong khi mức độ lan tỏa còn hạn chế. Khung pháp lý về dữ liệu, tài sản số, công nghệ nền tảng số còn chưa hoàn chỉnh. Các thị trường nhân tố phát triển chưa đồng bộ.

Trong bối cảnh mới hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là xác lập một mô hình tăng trưởng mới chất lượng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển đổi số (CĐS) và chuyển đổi xanh (CĐX); phát huy vai trò trung tâm của kinh tế tư nhân, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu để có thể đi xa, bền vững.

VAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Trường phái Kinh tế học thể chế khẳng định, tăng trưởng kinh tế dài hạn không chỉ phụ thuộc vào vốn và lao động mà còn quyết định bởi thể chế. Douglass North - cha đẻ của Trường phái Kinh tế học thể chế - đã đưa thể chế vào trung tâm của lý thuyết tăng trưởng dài hạn và xây dựng một khung lý luận có tính hệ thống để giải thích sự khác biệt phát triển giữa các quốc gia: Sự khác biệt về mức sống giữa các quốc gia không thể giải thích chỉ bằng vốn, lao động hay công nghệ mà còn bằng thể chế chất lượng.

Thể chế có vai trò quan trọng đến cơ cấu kinh tế. Thể chế tác động đến quá trình tái cơ cấu thông qua các kênh: (i) Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi và cạnh tranh công bằng; (ii) Phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường thay vì mệnh lệnh hành chính; (iii) Tạo động lực tăng trưởng mới thông qua KHCN, ĐMST, CĐS và chuyển đổi xanh; (iv) Thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; (v) Nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, minh bạch hóa và kiểm soát rủi ro; (vi) Khơi dậy tinh thần, ý chí phát triển và khát vọng vươn lên của con người như một nguồn lực nội sinh quan trọng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nước Đông Á thành công về công nghiệp hóa trong quá khứ (có mức tăng trưởng cao 2 con số liên tục trong hai đến ba chục năm) đều tiến hành cải cách thể chế mạnh mẽ trước khi bứt phá về công nghiệp hóa. Các nước này không bắt đầu quá trình công nghiệp hóa bằng đầu tư ồ ạt vào máy móc hay mở rộng quy mô sản xuất, mà trước hết bằng cải cách thể chế sâu rộng, thiết lập một khuôn khổ pháp lý ổn định, minh bạch và có khả năng điều phối nguồn lực hiệu quả. Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc trong giai đoạn cải cách, mở cửa đều cho thấy một quy tắc chung: thể chế đi trước, công nghiệp hóa và hiện đại hóa theo sau.

MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI HOÀN THIỆN THỂ CHẾ Ở VIỆT NAM

Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng là mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, gia tăng vốn đầu tư và lao động. Trong giai đoạn đầu phát triển, mô hình này giúp đạt tốc độ tăng trưởng khá. Tuy nhiên, khi thu nhập tăng lên và lợi thế lao động giá rẻ suy giảm, hiệu suất biên của vốn giảm dần. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nền kinh tế không chuyển kịp sang mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và ĐMST thường rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Mô hình tăng trưởng mới là mô hình trong đó động lực chủ yếu của tăng trưởng chuyển là từ KHCN, ĐMST, CĐS và chất lượng thể chế, với đóng góp quan trọng nhất từ khu vực kinh tế tư nhân, có sự phát triển đồng bộ các thị trường nhân tố, hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và gắn kết chặt chẽ với mục tiêu tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững. Trong mô hình tăng trưởng mới, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) (phản ánh hiệu quả sử dụng tổng hợp các yếu tố đầu vào) đóng vai trò rất quan trọng. Chất lượng thể chế tác động quan trọng đến TFP thông qua các kênh như: giảm chi phí giao dịch và rủi ro thể chế, qua đó thúc đẩy đầu tư dài hạn; bảo đảm cạnh tranh công bằng, buộc doanh nghiệp nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; tạo môi trường thuận lợi cho ĐMST và chuyển giao công nghệ.

Trong mô hình tăng trưởng mới, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo phát triển, chủ động đưa ra định hướng chiến lược và hỗ trợ công nghiệp hóa. Nhà nước kiến tạo không thay thế thị trường mà thiết lập khuôn khổ pháp lý để thị trường vận hành hiệu quả, bảo đảm cạnh tranh công bằng. Ngoài ra, trong bối cảnh CĐS và CĐX, Nhà nước kiến tạo hiện đại đóng vai trò thiết kế thể chế thúc đẩy phát triển KHCN và ĐMST, quản trị rủi ro hệ thống và dẫn dắt đầu tư vào hạ tầng chiến lược (CĐS, năng lượng tái tạo, dịch vụ logistics và các mô hình kinh tế thông minh, ứng dụng công nghệ cao…).

Mô hình tăng trưởng mới yêu cầu phải đạt được các mục tiêu trung gian: (i) Nâng cao năng suất và hiệu quả thông qua đổi mới công nghệ; (ii) Phát triển vốn con người chất lượng và thu hút nhân tài, tinh hoa; (iii) Thực hiện tăng trưởng xanh, CĐS, chuyển đổi cơ cấu, nâng cao năng lực chống chịu với các cú sốc và phát triển bền vững; (iv) Có thể chế chất lượng và nhà nước kiến tạo cho kinh doanh và ĐMST; (v) Tạo lập được hệ sinh thái ĐMST và tăng cường liên kết giữa các chủ thể như viện, trường - doanh nghiệp - ngân hàng - nhà đầu tư mạo hiểm - nhà quản lý; (vi) Khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ và là động lực quan trọng nhất; (vii) Kinh tế số và kinh tế xanh càng ngày càng đóng vai trò quan trọng, đảm bảo tăng trưởng bền vững và bao trùm.

MỘT SỐ RÀO CẢN THỂ CHẾ

Trong 40 năm đổi mới, Việt Nam đã có bước tiến đáng kể trong phát triển. Tuy nhiên, khi đặt trong yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, các hạn chế thể chế bắt đầu bộc lộ rõ hơn. Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ XIV đã tổng kết khái quát những hạn chế của thể chế, trong đó chỉ rõ: “Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển”.

Những hạn chế, bất cập của thể chế chủ yếu tập trung ở các nhóm sau:

i) Chất lượng và tính đồng bộ: Hệ thống pháp luật vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất giữa các luật và dưới luật; một số quy định chưa rõ ràng, khó thực thi, làm giảm hiệu quả điều chỉnh và niềm tin vào thể chế.

ii) Chậm được hoàn thiện và đổi mới: Thể chế chậm được hoàn thiện so với yêu cầu của thực tiễn phát triển, nhất là thể chế để cho thị trường hoạt động và phát triển các thị trường của yếu tố đầu vào của sản xuất như đất đai, lao động, vốn, đầu tư, khoa học - công nghệ và cho các thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân phát triển. Cơ chế tài chính khoa học còn nặng về quy trình, thủ tục; cơ chế khoán chi và chấp nhận rủi ro đổi mới chưa rõ ràng. Còn thiếu thể chế thúc đẩy liên kết các chủ thể trong hệ sinh thái ĐMST. Thị trường công nghệ phát triển chậm. Sự chậm trễ này làm hạn chế khả năng giải phóng nguồn lực và làm suy giảm động lực phát triển. Thể chế cho thị trường các sản phẩm kinh tế xanh như tín chỉ carbon mới đang ở giai đoạn chuẩn bị thí điểm.

iii) Việc xây dựng và thực thi thể chế còn khoảng cách đáng kể: Tổ chức thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo tính kỷ luật, thiếu sự phối hợp đồng bộ trong thực thi; kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình chưa thực sự hiệu quả. Nhiều luật và nghị quyết đã ban hành nhưng quá trình hướng dẫn, cụ thể hóa và thực thi còn chậm, thiếu nhất quán giữa các bộ, ngành và địa phương. Tình trạng chồng chéo, xung đột pháp lý làm tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.

iv) Thể chế trong những lĩnh vực mới và quan trọng chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới: Cơ chế tài chính khoa học còn nặng về quy trình, thủ tục; cơ chế khoán chi và chấp nhận rủi ro đổi mới chưa rõ ràng. Thể chế thúc đẩy liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp còn thiếu và yếu. Một số lĩnh vực mới như: kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, ĐMST, quản trị dữ liệu, thị trường các bon, tăng trưởng xanh, các mô hình tăng trưởng mới… chưa được thể chế hóa kịp thời, còn độ trễ so với yêu cầu của thực tiễn phát triển và hội nhập quốc tế. Cơ chế định giá carbon, tín chỉ carbon và tài chính xanh chưa được vận hành đầy đủ và đồng bộ.

v) Tư duy quản trị còn nặng về kiểm soát hơn là kiến tạo: Ở một số lĩnh vực, tư duy xây dựng và thực thi thể chế vẫn thiên về kiểm soát hơn là kiến tạo, hạn chế không gian đổi mới, sáng tạo và chủ động của người dân, doanh nghiệp, chưa tạo được niềm tin thể chế, chưa khuyến khích các động lực tăng trưởng mới.

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ CHO GIAI ĐOẠN TỚI

Các giải pháp chủ yếu hoàn thiện thể chế cho đổi mới mô hình tăng trưởng đã được nêu trong các chủ trương và chính sách của Nhà nước. Đặc biệt, thời gian gần đây Bộ Chính trị đã ban hành 9 nghị quyết chiến lược quan trọng, đề cập đến nhiều nội dung của đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế (Nghị quyết 57, 68, 70, 71, 79…). Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng đã nhấn mạnh yêu cầu “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng”. Điều này phản ánh rõ tư duy nhà nước kiến tạo trong điều kiện mới: thể chế phải đi trước một bước.

Bàn riêng cho xác lập mô hình tăng trưởng mới và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, bài viết này tập trung vào 4 trụ cột quan trọng nhất có tính đột phá: (1) Đột phá thể chế cho KHCN, ĐMST, CĐS và chuyển đổi xanh; (2) Đột phá về nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển và ứng dụng công nghệ cao, làm chủ công nghệ lõi, sản xuất thông minh; (3) Đột phá về phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường; (4) Đột phá không gian phát triển và liên kết vùng. Căn cứ trên các trụ cột đó, một số giải pháp chủ yếu về hoàn thiện thể chế nên ưu tiên gồm:

Khai thông điểm nghẽn cho KHCN, ĐMST và CĐS.

- Tạo đột phá thông qua sửa đổi, đồng bộ hóa các luật và quy định dưới luật liên quan KHCN, ĐMST, CĐS theo hướng giảm thủ tục, tăng tự chủ, tăng trách nhiệm giải trình.

- Đổi mới phương thức quản lý nhiệm vụ KHCN: quản lý theo đầu ra, tăng quyền tự chủ sử dụng kinh phí, mạnh dạn khoán trong khoa học, đổi mới cơ chế tài chính khoa học.

- Cho phép thí điểm cơ chế chấp nhận rủi ro trong ĐMST, chấp nhận thất bại trong nghiên cứu do yếu tố khách quan, chấp nhận độ trễ về kết quả….

- Tổ chức cơ chế “thử nghiệm chính sách” (sandbox) cho công nghệ mới (AI, fintech, dữ liệu, nền tảng số…), để vừa khuyến khích đổi mới vừa kiểm soát rủi ro. Xây dựng thể chế phục vụ phát triển nền tảng sản xuất mới dựa trên dữ liệu, công nghệ số và ĐMST, phát triển kinh tế dữ liệu là chiến lược quốc gia, thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia; ban hành khung pháp lý đầy đủ về dữ liệu, tài sản số và trí tuệ nhân tạo (AI); thúc đẩy dữ liệu mở trong khu vực công.

- Xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

- Phát triển thị trường công nghệ và cơ chế định giá tài sản trí tuệ.

- Tăng tỷ trọng ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và đổi mới trong doanh nghiệp, sử dụng công cụ “đồng tài trợ” để kéo vốn tư nhân vào đổi mới.

Khai thông điểm nghẽn nguồn nhân lực.

- Đột phá thể chế đào tạo theo chuỗi giá trị công nghệ chiến lược: Cần chuyển mạnh tư duy đào tạo từ “ngành học truyền thống” sang “chuỗi giá trị công nghệ chiến lược”. Mô hình đào tạo hiện nay vẫn mang tính phân mảnh theo ngành trong khi các công nghệ lõi như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, robot, vật liệu mới… đòi hỏi cấu trúc nhân lực gắn với toàn bộ chuỗi giá trị từ thiết kế, chế tạo, vận hành đến thương mại hóa.Vì vậy, thể chế cần quy định rõ việc xây dựng khung chuẩn năng lực quốc gia cho từng công nghệ chiến lược, làm căn cứ thiết kế chương trình đào tạo.

- Đột phá thể chế tài chính cho đào tạo công nghệ lõi: Cần thiết lập cơ chế đặt hàng đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược theo đầu ra, trong đó ngân sách nhà nước chi trả dựa trên kết quả đạt được.

- Bên cạnh đó, thể chế cần cho phép áp dụng cơ chế lương và đãi ngộ vượt khung đối với giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ lõi. Nếu không có cơ chế thu nhập cạnh tranh, khó có thể giữ chân và thu hút nhân lực chất lượng cao.

- Đột phá thể chế phát triển kỹ năng số và kỹ năng xanh cho lực lượng lao động: Cần xây dựng chuẩn kỹ năng số tối thiểu cho từng nhóm nghề, làm cơ sở cho chương trình đào tạo và đánh giá năng lực. Song song với đó, kỹ năng xanh như quản lý carbon, tiết kiệm năng lượng, quản trị ESG, kinh tế tuần hoàn phải được tích hợp vào đào tạo nghề và đại học. Ngoài ra, cần triển khai chương trình đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) quy mô quốc gia cho lực lượng lao động bị tác động bởi tự động hóa và CĐS. Điều này giúp giảm rủi ro thất nghiệp cơ cấu và bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra bao trùm.

- Đột phá thể chế thu hút và trọng dụng nhân tài công nghệ: Cần xây dựng cơ chế đãi ngộ cạnh tranh quốc tế cho chuyên gia công nghệ chiến lược, cho phép nhà khoa học được sở hữu hoặc đồng sở hữu tài sản trí tuệ tạo ra từ ngân sách nhà nước.

- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm trong nghiên cứu và ĐMST, giảm tâm lý e ngại rủi ro trong khu vực công.

Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

- Cần thiết kế các cơ chế đặc thù (sandbox) công nghệ, ưu đãi thuế R&D, phát triển quỹ đầu tư cho ĐMST và cơ chế đặt hàng công nghệ quy mô lớn để khuyến khích làm chủ các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược như bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo và năng lượng mới.

- Hình thành một số cụm công nghệ cao và đặc khu kinh tế thế hệ mới, có cơ chế thể chế vượt trội, tập trung vào nghiên cứu, phát triển, sản xuất công nghệ cao vốn là hạt nhân của phương thức sản xuất mới.

- Có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghệ mũi nhọn, công nghệ chiến lược, tái cấu trúc công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu mới, hóa chất và công nghệ số; từng bước làm chủ công nghệ trong các ngành mới nổi như công nghiệp bán dẫn, robot và tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp môi trường, công nghiệp sinh học, năng lượng tái tạo và năng lượng mới.

- Phát triển các mô hình kinh tế số trong các ngành kinh tế truyền thống.

Khuyến khích chuyển đổi xanh.

- Hoàn thiện thể chế cho chuyển đổi xanh: Xây dựng và vận hành thị trường carbon theo lộ trình, hoàn thiện cơ chế tài chính xanh và trái phiếu xanh, tích hợp tiêu chuẩn ESG vào quản trị doanh nghiệp và đầu tư công, khuyến khích kinh tế tuần hoàn và tiết kiệm năng lượng…

- Thúc đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới và công nghiệp môi trường, đồng thời từng bước xây dựng thị trường carbon và cơ chế tài chính xanh.

- Tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái và tuần hoàn, giảm phát thải; phát triển vùng sản xuất hàng hóa lớn gắn với chế biến sâu và thương hiệu quốc gia.

- Phát triển kinh tế biển xanh gắn với công nghệ cao, các bon thấp, kết hợp bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng - an ninh.

Phát triển khu vực kinh tế tư nhân và hệ sinh thái đổi mới.

- Cần xây dựng cơ chế bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận đất đai, vốn và cơ hội kinh doanh; Rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân phát triển thành các tập đoàn lớn có năng lực cạnh tranh quốc tế; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước nhằm chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản trị.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tiếp cận công nghệ, thị trường và nguồn lực tài chính.

- Khuyến khích liên kết trong hệ sinh thái ĐMST thông qua ưu đãi thuế và đồng tài trợ.

Không gian phát triển và liên kết vùng.

- Cần hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các hành lang kinh tế và vùng động lực quốc gia; phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), khai thác hiệu quả không gian ngầm và không gian tầm thấp; xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm logistics và khu thương mại tự do thế hệ mới.

- Cần phát triển các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn và cụm liên kết ngành theo vùng và liên vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ và giảm chi phí giao dịch.

Nguồn nhân lực và chuyển đổi cơ cấu lao động.

- Cần có cơ chế đẩy mạnh tự chủ cho đại học và viện nghiên cứu; phát triển nhân lực trong các lĩnh vực bán dẫn, AI, robot, năng lượng mới; thúc đẩy đào tạo lại lực lượng lao động để thích ứng với CĐS và già hóa dân số.

- Chuyển từ đào tạo đại trà sang đào tạo theo nhu cầu công nghệ chiến lược (AI, bán dẫn, an ninh mạng, dữ liệu, tự động hóa).

- Có cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài và tinh hoa (kể cả chuyên gia quốc tế), trả công theo kết quả, quyền sở hữu/đồng sở hữu tài sản trí tuệ rõ ràng để giữ người giỏi.

- Phổ cập kỹ năng số và nâng kỹ năng lực lượng lao động để CĐS không chỉ nằm ở “hệ thống” mà lan sang “năng suất lao động”.

Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và ĐMST.

- Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới ở doanh nghiệp (vườn ươm, trung tâm đổi mới, quỹ đầu tư, thử nghiệm sản phẩm…) vì đổi mới phải diễn ra mạnh ở khu vực doanh nghiệp mới kéo năng suất.

- Thiết kế cơ chế khuyến khích “đổi mới theo cụm ngành”: liên kết doanh nghiệp - viện - trường - địa phương theo các chuỗi giá trị ưu tiên (sản xuất thông minh, logistics, nông nghiệp công nghệ, y tế số…).

- Khuyến khích tăng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt trong quan hệ với doanh nghiệp FDI thông qua tăng cường chuyển giao công nghệ và nâng cấp nhà cung ứng nội địa.

- Khơi dậy nguồn lực nội sinh và tinh thần phát triển, phát huy khát vọng phát triển, ý chí tự cường và tinh thần, văn hóa cống hiến của con người Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền tự do kinh doanh, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, tôn trọng và khuyến khích sáng tạo.

Nâng cao năng lực thực thi và quản trị quốc gia.

- Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các chủ thể của quản lý đối với các động lực tăng trưởng mới, phối hợp và tăng cường liên kết liên ngành và liên lĩnh vực trong quản lý.

- Tăng cường kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng.

- Đẩy mạnh chính phủ số và quản trị thông minh, tăng cường tính minh bạch và giải trình của thể chế.

- Ứng dụng mạnh mẽ CĐS trong quản trị, dựa trên nền tảng số, AI, dữ liệu lớn…để nâng cao năng lực và nâng cao hiệu quả thực hiện.

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị gia tăng, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và yêu cầu CĐX và CĐS ngày càng khắt khe, yêu cầu xác lập một mô hình tăng trưởng mới trở nên cấp bách. Mô hình đó phải dựa vào năng suất, ĐMST, KHCN và phát triển bền vững, lấy khu vực kinh tế tư nhân làm động lực quan trọng, hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội.

Rào cản lớn nhất đối với quá trình chuyển đổi không nằm ở thiếu nguồn lực vật chất mà ở những điểm nghẽn thể chế. Những hạn chế này làm gia tăng chi phí giao dịch, giảm tính dự báo của môi trường đầu tư và kìm hãm động lực ĐMST. Nếu không đổi mới mạnh mẽ thể chế, việc nâng cao TFP và chuyển dịch cơ cấu theo chiều sâu sẽ khó đạt được.

Đại hội XIV của Đảng (2026) tiếp tục khẳng định, hoàn thiện thể chế phát triển là một trong những đột phá chiến lược. Điều này hàm ý rằng đổi mới thể chế không phải là nhiệm vụ bổ trợ, mà là điều kiện tiên quyết của đổi mới và xác lập mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Hoàn thiện thể chế và pháp luật không chỉ nhằm tháo gỡ các vướng mắc trước mắt, mà nhằm kiến tạo một nền tảng phát triển mới và lâu dài cho quốc gia. Nếu đổi mới thể chế được thực hiện quyết liệt và nhất quán trong giai đoạn tới, Việt Nam có cơ sở để chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và ĐMST, từ đó rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:

  1. Acemoglu, D., Robinson, J. (2012), Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity and Poverty, Crown Business, New York.
  2. Bộ Tài chính (2025), Báo cáo tình hình nợ công và ngân sách nhà nước năm 2024, Hà Nội.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  5. North, D.C. (1990), Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, Cambridge.
  6. OECD & World Bank (2014), Science, Technology and Innovation in Viet Nam, OECD Publishing, Paris.
  7. Cục Thống kê (2026), Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội.
  8. World Bank (2023), Worldwide Governance Indicators (WGI), Washington, DC.
  9. World Bank (2024), Viet Nam 2045: Trading up in a Changing World, Washington, DC.
  10. World Bank (2025), Viet Nam 2045: Institutions for a High-Income Future, Washington, DC.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 3/2026
PGS. TS.Bùi Quang Tuấn
Thích

Tin liên quan

Video