Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dòng tiền tuần qua: Ngân hàng đón loạt tín hiệu mới, lợi nhuận tăng tốc

Ngân hàng được mở thêm dư địa cung ứng vốn, tỷ giá USD/VND bắt đầu tăng nhiệt, gần 137.000 tỷ đồng trái phiếu được mua lại trước hạn và lợi nhuận giữa các ngân hàng phân hóa mạnh là những diễn biến đáng chú ý của dòng tiền tuần qua.

dòng tiền

Lợi nhuận các ngân hàng tiếp tục có sự phân hoá trong nửa đầu năm. Ảnh: Eximbank

Thêm dư địa tín dụng từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Một trong những thông tin đáng chú ý nhất tuần qua là việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 1743/QĐ-NHNN về tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).

Quyết định được áp dụng từ ngày 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028, trên cơ sở quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 25/2026/TT-NHNN.

Theo quy định mới, tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính khi xác định LDR được nâng từ 20% lên 50%. Việc điều chỉnh này được kỳ vọng giúp giảm chỉ số LDR của các ngân hàng đang nắm giữ lượng lớn tiền gửi Kho bạc Nhà nước, chủ yếu gồm BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank và MB.

LDR giảm đồng nghĩa các ngân hàng có thêm dư địa mở rộng tín dụng, đồng thời giảm áp lực phải tăng mạnh huy động vốn để bảo đảm các tỷ lệ an toàn. Qua đó, sức ép đối với mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có thể được hạn chế trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng.

Tuy nhiên, quy định mới chủ yếu điều chỉnh cách tính tỷ lệ an toàn, không trực tiếp tạo thêm tiền cho hệ thống ngân hàng. Khả năng mở rộng cho vay vẫn phụ thuộc vào quy mô nguồn vốn thực tế, thanh khoản và năng lực quản trị của từng tổ chức tín dụng.

Việc nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR thực hiện theo định hướng tại Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026. Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu tăng nguồn tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại nhằm bổ sung nguồn lực cho hệ thống và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Bộ Tài chính cũng được giao chủ động quyết định hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại. Trong trường hợp cần thiết, hạn mức này có thể vượt 50% số ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi.

Tỷ giá bắt đầu chịu thêm áp lực

Sau giai đoạn tương đối ổn định trong nửa đầu năm, tỷ giá USD/VND bắt đầu ghi nhận tín hiệu tăng nhiệt khi tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố vượt mức cao nhất từng được thiết lập trong năm 2025.

Theo Báo cáo cập nhật kinh tế tháng 6/2026 của Công ty Chứng khoán Shinhan, VND chỉ mất giá khoảng 0,05% so với USD từ đầu năm, thấp hơn đáng kể so với nhiều đồng tiền châu Á như won Hàn Quốc, baht Thái Lan, peso Philippines và yen Nhật.

Báo cáo của Công ty Chứng khoán VCBS cũng ghi nhận tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại chỉ tăng khoảng 85 đồng trong nửa đầu năm, trong khi tỷ giá trên thị trường tự do giảm khoảng 290 đồng so với đầu năm.

Diễn biến tương đối ổn định này được hỗ trợ bởi nguồn cung ngoại tệ tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, vốn FDI giải ngân đạt hơn 13 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ và ở mức cao nhất trong nhiều năm. Hoạt động huy động vốn quốc tế của doanh nghiệp phi tài chính đạt khoảng 1,3 tỷ USD, cao hơn mức 800 triệu USD của cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất VND - USD duy trì ở trạng thái dương đã làm tăng chi phí nắm giữ USD, qua đó hạn chế một phần nhu cầu đầu cơ ngoại tệ. Việc Ngân hàng Nhà nước triển khai bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang cũng góp phần ổn định nguồn cung và tâm lý thị trường.

Tuy nhiên, các tổ chức phân tích cho rằng áp lực tỷ giá có thể rõ hơn trong nửa cuối năm. Nguyên nhân chủ yếu đến từ khả năng Fed tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất, đồng USD duy trì sức mạnh và những bất ổn địa chính trị có thể đẩy giá năng lượng lên cao.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu bước vào mùa giao hàng cao điểm, cùng sự cải thiện theo mùa vụ của du lịch và kiều hối, được kỳ vọng bổ sung nguồn cung ngoại tệ trong những tháng cuối năm.

VCBS dự báo VND có thể mất giá khoảng 3% so với USD trong cả năm 2026. Trong khi đó, VNDIRECT dự báo tỷ giá USD/VND liên ngân hàng bình quân năm 2026 ở mức khoảng 26.750 VND/USD.

Ngân hàng mua lại gần 137.000 tỷ đồng trái phiếu

Theo FiinGroup, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp được mua lại trước hạn trong quý II/2026 đạt 138.900 tỷ đồng, gấp 8,4 lần quý trước và tăng 39% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, giá trị mua lại đạt 155.500 tỷ đồng.

Trong đó, các tổ chức tín dụng là lực lượng mua lại chủ yếu. Riêng quý II, nhóm ngân hàng mua lại khoảng 130.000 tỷ đồng trái phiếu, chiếm 93,6% toàn thị trường. Lũy kế nửa đầu năm, giá trị mua lại đạt gần 137.000 tỷ đồng, tăng 76% và chiếm 88,1% tổng giá trị mua lại.

Tháng 6 ghi nhận mức mua lại cao nhất từ trước đến nay, với gần 65.000 tỷ đồng. ACB mua lại 15.000 tỷ đồng, Techcombank 14.500 tỷ đồng, MB 8.000 tỷ đồng và OCB 6.700 tỷ đồng.

Trong khi lượng mua lại tăng mạnh, giá trị phát hành mới của nhóm ngân hàng trong 6 tháng chỉ đạt khoảng 99.900 tỷ đồng, giảm gần 50% so với cùng kỳ. Giá trị trái phiếu được mua lại vì vậy cao hơn 37,1% lượng phát hành mới, khiến dư nợ trái phiếu ngân hàng cuối quý II giảm còn khoảng 641.000 tỷ đồng.

Đáng chú ý, gần 91% số trái phiếu được mua lại có kỳ hạn phát hành dưới 3 năm và thời gian lưu hành thực tế chưa đến 2 năm. Cơ cấu này cho thấy hoạt động mua lại chủ yếu gắn với việc điều chỉnh thanh khoản, chi phí và kỳ hạn nguồn vốn, thay vì chỉ nhằm xử lý các khoản nợ sắp đáo hạn.

Mặt bằng lãi suất phát hành trái phiếu ngân hàng cũng tăng lên. Trong tháng 6, lãi suất phát hành bình quân ở mức 8,3%/năm, cao hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với bình quân giai đoạn 2023-2025.

Big4 giữ ngôi đầu, nhiều ngân hàng tăng trưởng bằng lần

Mùa công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm tiếp tục là tâm điểm của tuần qua khi hầu hết ngân hàng đã công bố lợi nhuận. Nhóm Big4 và các ngân hàng quy mô lớn vẫn dẫn đầu về quy mô, trong khi nhiều ngân hàng vừa và nhỏ gây chú ý nhờ tốc độ tăng trưởng cao.

Vietcombank tiếp tục giữ vị trí quán quân với lợi nhuận trước thuế 29.222 tỷ đồng, tăng 33,5% so với cùng kỳ. VietinBank đứng thứ hai với 25.878 tỷ đồng, tăng 36,8%. MB vươn lên vị trí thứ ba với 20.188 tỷ đồng, vượt BIDV (18.905 tỷ đồng), trở thành ngân hàng ngoài quốc doanh có lợi nhuận cao nhất. Đáng chú ý, VPBank đạt 18.900 tỷ đồng, chỉ thấp hơn BIDV khoảng 5 tỷ đồng và vượt Agribank (18.821 tỷ đồng), ghi nhận mức tăng trưởng 68,3% - cao nhất trong nhóm ngân hàng dẫn đầu. Techcombank xếp ngay sau với 18.500 tỷ đồng, đồng thời lập kỷ lục lợi nhuận theo quý.

Ở nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, BVBank dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng khi lợi nhuận trước thuế đạt 547 tỷ đồng, tăng gần 5,9 lần so với cùng kỳ. ABBank cũng ghi nhận mức tăng hơn gấp đôi, đạt 3.016 tỷ đồng. Nhiều ngân hàng khác tăng trên 50% như Vietbank, PGBank và NCB. Nhóm tăng trưởng hai chữ số còn có OCB, KienlongBank, Nam A Bank, cùng các ngân hàng lớn như Vietcombank, VietinBank, MB và Techcombank.

Trong khi đó, một số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận suy giảm chủ yếu do chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh. Saigonbank giảm mạnh nhất khi lợi nhuận chỉ còn 48 tỷ đồng và là ngân hàng duy nhất lỗ trong quý II. SeABank và Eximbank cùng giảm hơn một nửa lợi nhuận, trong khi Sacombank và LPBank cũng ghi nhận kết quả thấp hơn cùng kỳ.

Diễn biến mùa báo cáo tài chính cho thấy bức tranh lợi nhuận tiếp tục phân hóa. Các ngân hàng lớn vẫn duy trì ưu thế về quy mô, trong khi nhiều ngân hàng vừa và nhỏ tạo dấu ấn nhờ tốc độ tăng trưởng cao. Bên cạnh tín dụng, nguồn thu từ dịch vụ, ngoại hối, đầu tư cùng khả năng kiểm soát chi phí dự phòng tiếp tục là những yếu tố tạo khác biệt trong kết quả kinh doanh nửa đầu năm.

Tín dụng tăng nhưng chất lượng tài sản cần tiếp tục theo dõi

Cùng với lợi nhuận, quy mô tín dụng và huy động tại nhiều ngân hàng tiếp tục mở rộng trong nửa đầu năm.

VPBank ghi nhận tổng tài sản hợp nhất vượt 1,5 triệu tỷ đồng, tăng 19,2% so với cuối năm 2025; tín dụng riêng lẻ tăng 24,6%. NCB có tổng tài sản tăng 21,5%, trong khi dư nợ cho vay khách hàng tăng gần 36.000 tỷ đồng. Techcombank ghi nhận tín dụng riêng lẻ tăng 14,3%; OCB tăng trưởng tín dụng 11%; Vietbank cũng tăng dư nợ 11%.

Ở nhóm ngân hàng quy mô lớn, dư nợ cho vay của VietinBank vượt 2 triệu tỷ đồng, tăng 5,3%. ACB đạt gần 746.000 tỷ đồng dư nợ, tăng 8,6%; LPBank tăng cho vay 9,6%; TPBank tăng tín dụng 9,62%.

Chất lượng tài sản có sự khác biệt giữa các ngân hàng. ACB duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức 1%; Techcombank ở mức 1,15%; VietABank giảm tỷ lệ nợ xấu xuống 1,22%; KienlongBank ở mức 1,44% và TPBank dưới 1,5%.

Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu của VIB ở mức 2,1%, Eximbank ở mức 2,88%. Tại VietinBank, số dư nợ xấu tăng 14%, kéo tỷ lệ nợ xấu lên 2,89%, dù tỷ lệ bao phủ nợ xấu vẫn ở mức 134%.

Giá vàng giảm tiếp, SJC mất gần 5 triệu đồng trong tháng 7

Thị trường vàng kết thúc tuần trong trạng thái suy yếu. Ngày 1/8, giá vàng miếng SJC được niêm yết phổ biến ở mức 137 - 141 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước.

So với cuối tuần trước, khi vàng miếng SJC được giao dịch quanh mức 137,5 - 141,5 triệu đồng/lượng, giá hiện giảm khoảng 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.

Nếu tính từ đầu tháng 7, giá vàng miếng SJC đã giảm 5,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 4,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. Chênh lệch mua - bán hiện duy trì ở mức 4 triệu đồng/lượng.

Ở phân khúc vàng nhẫn, vàng nhẫn SJC loại 1-5 chỉ được giao dịch ở mức 136,5 - 140,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 900.000 đồng/lượng trong phiên và giảm khoảng 500.000 đồng/lượng so với cuối tuần trước.

Tính từ đầu tháng 7, vàng nhẫn SJC giảm 5,9 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.

Vàng nhẫn 9999 của DOJI giảm 1 triệu đồng/lượng, xuống 137 - 141 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Bảo Tín Minh Châu niêm yết vàng nhẫn Vàng Rồng Thăng Long ở mức 138,3 - 142,3 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 400.000 đồng/lượng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay kết tuần quanh mức 4.043 USD/ounce, trong khi giá vàng giao tháng 8/2026 trên sàn Comex New York ở mức khoảng 4.098 USD/ounce.

Giá vàng chịu sức ép khi đồng USD mạnh lên, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ duy trì ở mức cao và giá dầu tăng trở lại. Các yếu tố này đã lấn át tác động hỗ trợ từ số liệu lạm phát PCE của Mỹ hạ nhiệt.

Hương Dịu
Thích

Tin liên quan