![]() |
| Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 102/2026/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Ảnh hỗ trợ của AI |
Thông tư quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu, doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước, Kiểm soát viên cũng như cơ chế báo cáo, đánh giá, công khai thông tin và xây dựng Hệ thống thông tin quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, góp phần bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện Nghị định số 365/2025/NĐ-CP.
Quy định cụ thể nội dung giám sát, kiểm tra và chế độ báo cáo
Thông tư số 102/2026/TT-BTC hướng dẫn chi tiết các nội dung giám sát, kiểm tra đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu trong hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo quy định của Nghị định số 365/2025/NĐ-CP.
Nội dung giám sát tập trung vào việc tuân thủ nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư vốn nhà nước; đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội; kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh và yêu cầu cơ quan đại diện chủ sở hữu giải trình, đề xuất giải pháp khi hoạt động đầu tư chưa bảo đảm yêu cầu.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp và người đại diện phần vốn nhà nước, Thông tư quy định nội dung giám sát, kiểm tra toàn diện đối với hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước. Trong đó bao gồm việc thực hiện chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, hiệu quả sử dụng vốn, nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ, hoạt động đầu tư dự án, đầu tư vốn tại doanh nghiệp khác, huy động và sử dụng vốn huy động, quản lý tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả, bảo toàn và phát triển vốn cũng như việc chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng dự án đầu tư và cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Thông tư cũng quy định việc giám sát quyền, trách nhiệm của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, người đại diện phần vốn nhà nước, Kiểm soát viên; việc thực hiện các kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán; chế độ tiền lương, tiền thưởng và việc tuân thủ các quy định trong công tác quản lý doanh nghiệp.
Về chế độ báo cáo, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện báo cáo định kỳ hằng quý, hằng năm và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc cơ quan quản lý nhà nước. Thông tư nhấn mạnh doanh nghiệp, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp và người đại diện phần vốn nhà nước phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp lý và trung thực của toàn bộ thông tin, tài liệu, báo cáo gửi cơ quan có thẩm quyền.
Hoàn thiện cơ sở đánh giá doanh nghiệp và xây dựng hệ thống thông tin quản lý
Thông tư số 102/2026/TT-BTC quy định cụ thể các chỉ tiêu phục vụ đánh giá, xếp loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo Nghị định số 365/2025/NĐ-CP. Các chỉ tiêu gồm tổng doanh thu; nguyên tắc xác định chỉ tiêu ROE khi vốn chủ sở hữu nhỏ hơn hoặc bằng không; giá trị khối lượng thực hiện hoặc giá trị giải ngân đối với các dự án đầu tư; việc thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công, nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh và nguyên tắc loại trừ các yếu tố tác động khi đánh giá theo quy định của Nghị định. Thông tư cũng quy định mẫu biểu báo cáo phục vụ công tác đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và đánh giá người đại diện, Kiểm soát viên.
Bên cạnh đó, Thông tư quy định việc thực hiện chế độ báo cáo và công khai thông tin theo Nghị định số 365/2025/NĐ-CP; giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành yêu cầu về dữ liệu, hướng dẫn kết nối, chia sẻ dữ liệu và tổ chức đào tạo, tập huấn để vận hành hệ thống.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm xây dựng quy chế quản lý, triển khai và phê duyệt dữ liệu trên Hệ thống thông tin; phối hợp với Bộ Tài chính cung cấp đầy đủ, chính xác, trung thực và kịp thời thông tin thuộc phạm vi quản lý. Doanh nghiệp nhà nước, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và Kiểm soát viên có trách nhiệm cung cấp, cập nhật dữ liệu đầy đủ, chính xác; khai thác, sử dụng dữ liệu đúng mục đích; không được làm sai lệch, hủy hoại hoặc tiết lộ trái phép dữ liệu và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các hành vi vi phạm quy định về cung cấp, cập nhật, khai thác và sử dụng dữ liệu trên Hệ thống thông tin.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng nêu rõ, theo quy định chuyển tiếp, việc đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và đánh giá người đại diện, Kiểm soát viên của các năm tài chính từ năm 2025 trở về trước tiếp tục thực hiện theo Thông tư số 200/2015/TT-BTC và Thông tư số 77/2021/TT-BTC. Trong thời gian Hệ thống thông tin chưa hoàn thành, các cơ quan và doanh nghiệp tiếp tục lập, nhập dữ liệu và gửi báo cáo theo các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17/7/2026.
Thông tư cũng bãi bỏ Thông tư số 200/2015/TT-BTC ngày 15/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Thông tư số 77/2021/TT-BTC ngày 17/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 200/2015/TT-BTC ngày 15/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều 9 Thông tư số 36/2021/TT-BTC ngày 26/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp quy định tại Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015; Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018; Nghị định số 121/2020/NĐ-CP ngày 09/10/2020 và Nghị định số 140/2020/NĐ-CP ngày 30/11/2020 của Chính phủ. Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 16/2023/TT-BTC ngày 17/3/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2021/TТBTC ngày 26/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.


