![]() |
Lãi suất tiết kiệm không tăng đều theo kỳ hạn
Khảo sát biểu lãi suất huy động cho thấy, kỳ hạn gửi tiền dài hơn không đồng nghĩa với mức lãi suất cao hơn. Tại một số ngân hàng, lãi suất kỳ hạn 12 tháng thậm chí vượt mức áp dụng cho kỳ hạn 24 tháng, trong khi nhiều ngân hàng duy trì cùng một mức lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau.
Điển hình tại Techcombank, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng được hưởng mức cao hơn kỳ hạn 24 tháng. Với sản phẩm Tiết kiệm Phát Lộc tại quầy, khách hàng thông thường gửi dưới 1 tỷ đồng được áp dụng lãi suất 5,75%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, nhưng chỉ 4,85%/năm ở kỳ hạn 24 tháng. Đối với sản phẩm Tiền gửi rút gốc linh hoạt online, mức lãi suất tương ứng là 6,25%/năm và 5,35%/năm.
Tương tự, PGBank áp dụng lãi suất 7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, nhưng giảm xuống 6,8%/năm ở kỳ hạn 24 tháng. Tại BAC A BANK, lãi suất kỳ hạn 12 tháng là 6,6%/năm, cao hơn mức 6,45%/năm của kỳ hạn 24 tháng. VIB cũng niêm yết 7%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, trong khi kỳ hạn 24 tháng chỉ ở mức 6%/năm.
Lãi suất cho vay phát sinh mới giảm 0,2 - 0,5% Theo thông tin được Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đưa ra tại họp báo Chính phủ thường kỳ vào ngày 4/11, thời gian qua, các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng nước ngoài đã giảm lãi suất huy động niêm yết phổ biến 0,5 điểm phần trăm/năm; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 0,5 - 0,7 điểm phần trăm/năm. Lãi suất huy động thực tế đối với các khoản tiền gửi phát sinh mới vào cuối tháng 10 giảm bình quân khoảng 0,4 điểm phần trăm/năm so với giữa tháng 10; lãi suất cho vay phát sinh mới giảm 0,2 - 0,5 điểm phần trăm/năm. Bên cạnh đó, hơn 20 ngân hàng đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, với mức giảm lãi suất từ 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm. |
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng áp dụng lãi suất cao hơn đối với kỳ hạn dài. Chẳng hạn, Sacombank niêm yết 7%/năm ở kỳ hạn 12 tháng và 7,3%/năm ở kỳ hạn 24 tháng.
Trong khi đó, MBV và VCBNeo cùng duy trì mức 7%/năm cho cả kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng. VPBank niêm yết 7,1%/năm ở cả hai kỳ hạn, cao hơn mức 7%/năm áp dụng cho kỳ hạn 6 tháng.
Đáng chú ý, sự khác biệt còn thể hiện ở nhóm kỳ hạn trung bình. Tại VPBank và VCBNeo, lãi suất kỳ hạn 6 tháng cùng đạt 7%/năm, tương đương hoặc gần bằng mức áp dụng ở kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng. Cake by VPBank cũng niêm yết 6,9%/năm cho cả ba kỳ hạn 6, 12 và 24 tháng.
Xét riêng kỳ hạn 12 tháng, VPBank dẫn đầu bảng tổng hợp với lãi suất 7,1%/năm. Nhóm MBV, PGBank, Sacombank, VCBNeo và VIB cùng niêm yết 7%/năm; Cake by VPBank và BVBank áp dụng 6,9%/năm. Trong khi đó, Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 5,4%/năm.
Ở kỳ hạn 24 tháng, Sacombank đứng đầu với mức 7,3%/năm, tiếp đến là VPBank với 7,1%/năm. MBV và VCBNeo cùng áp dụng 7%/năm, Cake by VPBank niêm yết 6,9%/năm, còn PGBank ở mức 6,8%/năm.
Đối với kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất tập trung quanh mức 4,5 - 4,75%/năm. Riêng nhóm ngân hàng có vốn nhà nước, Agribank áp dụng 2,9%/năm, còn BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng ở mức 2,4%/năm.
Bên cạnh biểu lãi suất thông thường, một số ngân hàng còn công bố mức lãi suất cao hơn đáng kể nhưng đi kèm điều kiện riêng về số tiền gửi. Chẳng hạn, PVcomBank áp dụng lãi suất 10%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 12 - 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ, với điều kiện khách hàng gửi tại quầy từ 2.000 tỷ đồng trở lên. MSB niêm yết 9%/năm ở kỳ hạn 12 - 13 tháng đối với khoản tiền gửi đáp ứng điều kiện về thời điểm mở sổ và số dư tối thiểu 500 tỷ đồng...
* Thông tin về lãi suất nêu trên là mức tham khảo tại thời điểm khảo sát trên website của các ngân hàng; mức áp dụng thực tế có thể thay đổi tùy sản phẩm, phương thức gửi tiền và điều kiện của từng ngân hàng.
![]() |
| Nguồn: Ngân hàng Nhà nước |
Tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng
Ngày 5/11/2026, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.623 VND/USD, giảm 4 đồng so với ngày 4/11.
Với biên độ giao dịch ±5%, tỷ giá trần được phép áp dụng tại các ngân hàng thương mại là 26.904 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn là 24.342 VND/USD.
Tại Vietcombank, giá USD được niêm yết ở mức 25.480 VND/USD (mua tiền mặt), 25.510 VND/USD (mua chuyển khoản) và 25.890 VND/USD (bán ra), đồng loạt giảm 70 đồng so với phiên trước.
Đối với các ngoại tệ khác, Vietcombank niêm yết EUR ở mức 28.149,55 VND/EUR (mua tiền mặt), 28.433,88 VND/EUR (mua chuyển khoản) và 29.634,65 VND/EUR (bán ra). Tỷ giá GBP được niêm yết ở mức 33.758,92 - 35.193,23 VND/GBP (mua tiền mặt - bán ra), trong khi JPY ở mức 156,38 - 167,16 VND/JPY.
Đối với đồng CNY, Vietcombank niêm yết giá mua tiền mặt 3.753,50 VND/CNY, mua chuyển khoản 3.791,42 VND/CNY và bán ra 3.912,98 VND/CNY. So với ngày 4/11, giá bán CNY giảm 12,41 đồng.
Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY) tiếp tục giảm, xuống mức 101,37 điểm trong phiên giao dịch ngày 4/11 (giờ Mỹ), mất 0,19 điểm, tương đương 0,19% so với phiên trước.
Theo dữ liệu thị trường, DXY đã lùi xuống dưới mức 101,5 điểm sau khi có thời điểm vượt 102 điểm trong tháng 10/2026. Diễn biến này phản ánh sự điều chỉnh của đồng USD so với rổ các đồng tiền chủ chốt, sau giai đoạn tăng trong những tháng trước.




