Nghị quyết 253 tạo hành lang thể chế cho điện gió ngoài khơi bứt tốc
Nghị quyết số 253/2025/QH15 mở ra cơ chế mới cho điện gió ngoài khơi, tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục, thúc đẩy triển khai dự án quy mô lớn trên biển.
Trong Nghị quyết số 253/2025/QH15 (Nghị quyết 253) ngày 11/12/2025 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, điện gió ngoài khơi lần đầu tiên được đặt vào khung cơ chế đặc thù. Cách tiếp cận này cho thấy sự điều chỉnh quan trọng trong tư duy bảo đảm an ninh năng lượng gắn với an ninh biển và phát triển bền vững.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam đã phân tích những điểm nổi bật trong tư duy chính sách, vai trò của ngành dầu khí trong không gian năng lượng biển.

TS. Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam - Ảnh: Thái Mạnh
Cơ chế đặc thù
- Nghị quyết 253 coi điện gió ngoài khơi là một cấu phần quan trọng của hệ thống năng lượng quốc gia trong giai đoạn tới. Theo ông, việc đưa điện gió ngoài khơi vào khung cơ chế đặc thù phản ánh sự điều chỉnh chiến lược nào trong cách Việt Nam tiếp cận bài toán an ninh năng lượng dài hạn?
TS. Nguyễn Quốc Thập:Tôi cho rằng điều này phản ánh một bước điều chỉnh rất căn bản trong tư duy bảo đảm an ninh năng lượng của Việt Nam. Nếu trước đây chúng ta tiếp cận an ninh năng lượng chủ yếu theo hướng bảo đảm đủ nguồn cung, đủ công suất thì nay cách nhìn đã mở rộng hơn, dài hạn hơn, gắn an ninh năng lượng với an ninh quốc gia, an ninh biển và phát triển bền vững.
Điện gió ngoài khơi không chỉ là một nguồn năng lượng tái tạo đơn thuần. Việc đưa lĩnh vực này vào cơ chế riêng cho thấy Việt Nam đã nhìn thấy rõ vai trò chiến lược của không gian biển trong cấu trúc năng lượng tương lai. Đây là sự dịch chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy làm chủ và hiện diện lâu dài trên biển thông qua các công trình kinh tế quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với lợi ích quốc gia lâu dài.
Nghị quyết 253 cũng phản ánh sự chủ động của Việt Nam trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu trong bối cảnh biến động địa chính trị ngày càng khó lường. Điện gió ngoài khơi giúp tăng tính tự chủ, phân tán rủi ro hệ thống, đồng thời tạo dư địa để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng mới của khu vực và thế giới.
- Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết 253 là cho phép rút gọn thủ tục và áp dụng cơ chế lựa chọn nhà đầu tư phù hợp với tính chất đặc thù của điện gió ngoài khơi. Dưới góc nhìn chuyên gia năng lượng, ông đánh giá cơ chế này sẽ tác động như thế nào đến tiến độ triển khai các dự án lớn trên biển?
TS. Nguyễn Quốc Thập:Ở đây Nhà nước đã nhìn đúng "độ khó" của điện gió ngoài khơi để thiết kế cơ chế phù hợp thay vì áp dụng các thủ tục như với dự án trên đất liền. Điện gió ngoài khơi là lĩnh vực mới, quy mô lớn, vốn đầu tư cao, thời gian chuẩn bị kéo dài, rủi ro kỹ thuật và tài chính đều lớn. Nếu giữ cách làm cũ, thủ tục chồng chéo, thẩm định kéo dài thì rất khó có dự án nào đi vào thực chất.
Việc cho phép rút gọn thủ tục và lựa chọn nhà đầu tư theo tính chất đặc thù sẽ rút ngắn thời gian và tác động tích cực đến tiến độ triển khai và hiệu quả tổng thể của dự án.
Thứ nhất là rút ngắn đáng kể giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vốn thường chiếm nhiều năm đối với dự án ngoài khơi. Khi các bước được thiết kế gọn hơn, rõ trách nhiệm hơn, nhà đầu tư sẽ chủ động hơn trong tính toán tài chính và kỹ thuật.
Thứ hai là cơ chế lựa chọn nhà đầu tư phù hợp sẽ giúp sàng lọc ngay từ đầu những doanh nghiệp có năng lực thực sự, có kinh nghiệm biển, có tiềm lực vốn và công nghệ, tránh tình trạng đăng ký cho nhiều nhưng không triển khai được.
Tôi cho rằng tác động lớn nhất của cơ chế này là tạo niềm tin cho thị trường. Khi nhà đầu tư thấy Nhà nước đồng hành, chia sẻ rủi ro thể chế và có quyết tâm chính trị rõ ràng, họ sẽ mạnh dạn cam kết lâu dài. Điều đó rất quan trọng, bởi điện gió ngoài khơi không phải câu chuyện một dự án mà là cả một chuỗi dự án kéo dài hàng chục năm trên biển.

Phát huy kinh nghiệm biển của dầu khí trong điện gió ngoài khơi - Ảnh minh họa
Cách tiếp cận mới với kinh tế biển
- Điện gió ngoài khơi có sự giao thoa lợi ích giữa năng lượng tái tạo, dầu khí, hàng hải và quốc phòng an ninh. Theo ông, Nghị quyết 253 đã đặt ra những yêu cầu quản lý nào để xử lý hài hòa các không gian phát triển này mà vẫn bảo đảm chủ quyền và lợi ích quốc gia?
TS. Nguyễn Quốc Thập:Tôi nghĩ Nghị quyết 253 đã đặt vấn đề rất trúng khi coi điện gió ngoài khơi là một hoạt động kinh tế biển đặc thù, nằm trong không gian có nhiều lợi ích đan xen. Vì vậy, yêu cầu quản lý quan trọng nhất là phải chuyển từ cách làm đơn ngành sang tư duy phối hợp liên ngành, có phân công rõ ràng và cơ chế phối hợp thực chất.
Trước hết là yêu cầu về quy hoạch không gian biển một cách tổng thể. Điện gió ngoài khơi không thể tách rời các hoạt động dầu khí, hàng hải, đánh bắt thủy sản và nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Nghị quyết đặt ra yêu cầu các dự án phải phù hợp với quy hoạch biển quốc gia, quy hoạch ngành năng lượng và các quy hoạch liên quan khác, tránh xung đột không gian ngay từ khâu chuẩn bị.
Thứ hai là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Với các công trình ngoài khơi, nếu mỗi ngành quản một phần theo cách riêng thì rất khó triển khai. Nghị quyết hướng tới việc xác lập đầu mối rõ ràng, tăng trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, ngành trung ương và địa phương ven biển, vừa bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế vừa giữ vững nguyên tắc chủ quyền và an ninh trên biển.
Một điểm tôi đánh giá cao là yêu cầu lồng ghép yếu tố quốc phòng an ninh ngay từ đầu, từ khảo sát, thiết kế đến vận hành dự án. Điều này giúp các công trình điện gió ngoài khơi không trở thành điểm nhạy cảm mà ngược lại góp phần tăng cường hiện diện kinh tế hợp pháp của Việt Nam trên biển.

TS. Nguyễn Quốc Thập trao đổi với phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh
- Ngành dầu khí Việt Nam có nhiều kinh nghiệm về khảo sát, xây dựng và vận hành công trình ngoài khơi. Ông kỳ vọng vai trò của ngành dầu khí sẽ được tái định vị ra sao khi tham gia phát triển điện gió ngoài khơi theo Nghị quyết 253 trong giai đoạn tới?
TS. Nguyễn Quốc Thập:Nghị quyết 253 mở ra một không gian mới để ngành dầu khí Việt Nam được tiếp tục phát huy những năng lực và kinh nghiệm tích lũy nhiều thập kỷ trên biển. Điện gió ngoài khơi là lĩnh vực mới về công nghệ phát điện nhưng lại khá quen thuộc về điều kiện tự nhiên, khí tượng, thủy văn, sóng, gió, kỹ thuật biển và cách tổ chức thi công ngoài khơi. Đây chính là nơi ngành dầu khí có thể phát huy vai trò một cách thực chất và ít tốn kém nhất.
Tôi kỳ vọng ngành dầu khí sẽ không đơn thuần tham gia với tư cách đơn vị hỗ trợ mà trở thành một lực lượng nòng cốt trong chuỗi phát triển điện gió ngoài khơi. Từ khảo sát địa chất, khảo sát biển, thiết kế móng, lắp đặt công trình, vận hành và bảo dưỡng ngoài khơi... Những kinh nghiệm này ngành dầu khí đã làm rất tốt trong các dự án dầu khí truyền thống. Nếu được kết nối hợp lý, đây là lợi thế rất lớn giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian và nâng cao độ an toàn cho các dự án điện gió ngoài khơi.
Quan trọng hơn, việc tham gia điện gió ngoài khơi giúp ngành dầu khí mở rộng không gian phát triển và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng. Đây không phải là sự thay thế mà là sự bổ sung và chuyển hóa vai trò, từ khai thác tài nguyên hữu hạn sang chuỗi giá trị năng lượng tái tạo, sạch và xanh.
Tôi cho rằng nếu có được các cơ chế phù hợp, ngành dầu khí Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trụ cột kỹ thuật cho điện gió ngoài khơi, đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong mở rộng và phát triển kinh tế trên biển, gắn phát triển ngành với lợi ích quốc gia lâu dài.
Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!
Dự kiến ngày 29/1, Báo Công Thương tổ chức diễn đàn "Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030", góp phần cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.
Diễn đàn có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia và doanh nghiệp…, tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy các lĩnh vực then chốt, góp phần đưa Nghị quyết vào cuộc sống.



