Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập nền tảng tài chính số, góp phần cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Bài viết phân thích quá trình đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng nền tảng tài chính số nhằm thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại Bộ Tài chính. Trên cơ sở thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các quyết định chiến lược của Ngành, nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích định tính dữ liệu thứ cấp và đánh giá thực tiễn triển khai chuyển đổi số của Bộ Tài chính giai đoạn 2021-2025. Bên cạnh đó, bài viết chỉ ra 04 điểm nghẽn về sự đồng đều giữa các đơn vị, tính liên thông dữ liệu, tỷ lệ xử lý hồ sơ hoàn toàn trực tuyến và hạ tầng kỹ thuật. Từ đó, tác giả đề xuất hệ thống nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026-2030, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cải cách hành chính và xây dựng nền tài chính số hiện đại, minh bạch, hiệu quả.

Nguyễn Trung Hiếu

Cục Công nghệ thông tin và chuyển đổi số - Bộ Tài chính

Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định quyết tâm chính trị to lớn, mở đường cho các cơ chế đột phá về tài chính, nhân lực và đầu tư. Chủ trương này không chỉ tạo hành lang pháp lý chiến lược mà còn kích hoạt chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, từ các bộ, ngành, địa phương đến cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ trí thức.

Đối với ngành Tài chính-mạch máu của nền kinh tế, chuyển đổi số và hiện đại hóa công tác quản lý tài chính công giữ vai trò trụ cột, mang tính dẫn dắt và quyết định đến hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng như các nghị quyết hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 71/NQ-CP, Nghị quyết số 11/NQ-CP), Bộ Tài chính đã nhanh chóng cụ thể hóa các nhiệm vụ chiến lược thông qua Quyết định số 3546/QĐ-BTC ngày 20/10/2025 về Chiến lược chuyển đổi số Bộ Tài chính đến năm 2030 và Quyết định số 424/QĐ-BTC ngày 09/3/2026 về Kế hoạch chuyển đổi số năm 2026. Mục tiêu bao trùm là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), thiết lập nền tảng tài chính số hiện đại, lấy dữ liệu làm trung tâm, từ đó tạo xung lực bứt phá cho cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật trong hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và tạo lập dữ liệu số giai đoạn 2021-2025, thực tiễn triển khai chuyển đổi số tại Bộ Tài chính vẫn đối mặt với một số “điểm nghẽn” như: Sự phát triển chưa đồng đều giữa các đơn vị, tính kết nối và chia sẻ dữ liệu chuyên ngành có lúc còn phân mảnh, thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân, doanh nghiệp chưa thực sự ổn định, cùng những thách thức về nâng cấp hạ tầng công nghệ thích ứng với các công nghệ mới như Trí tuệ nhân tạo (AI) và Dữ liệu lớn (Big Data).

Xuất phát từ thực tiễn trên, bài viết tập trung phân tích, đánh giá toàn diện những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại, hạn chế trong quá trình tăng cường ứng dụng CNTT và phát triển tài chính số tại Bộ Tài chính giai đoạn 2021-2025. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho giai đoạn 2026-2030 nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính và nâng cấp các nền tảng nghiệp vụ cốt lõi, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cải cách hành chính và xây dựng nền tài chính số hiện đại, minh bạch, hiệu quả.

NHỮNG ĐIỂM SÁNG TRONG THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI BỘ TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2021-2025

Năm 2025 không chỉ là năm cuối của một chu kỳ kế hoạch 5 năm, mà còn là mốc quan trọng trong tiến trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam nói chung và Bộ Tài chính nói riêng. Đây là giai đoạn chuyển tiếp có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng vững chắc để ngành Tài chính bước sang giai đoạn phát triển mới với tư duy quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu và công nghệ số.

Thực hiện Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025, Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; để việc sáp nhập đơn vị hành chính theo mô hình địa phương 2 cấp bảo đảm đúng mục tiêu tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, Bộ Tài chính (sau sắp xếp) đã được tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất Bộ Tài chính với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sáp nhập Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đồng thời tiếp nhận nhiệm vụ từ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp một số nhiệm vụ của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, hình thành một mô hình tổ chức mới với phạm vi quản lý rộng, yêu cầu điều hành ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã triển khai chuyển đổi số một cách nhanh chóng, kịp thời, toàn diện và đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể:

Về hoàn thiện cơ chế chính sách tạo thuận lợi cho chuyển đổi số:

Trong năm 2025, Bộ Tài chính đã tham mưu, xây dựng, trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua nhiều Luật, Nghị quyết của Quốc hội, trong đó có các Luật để thể chế hóa, triển khai thực hiện Nghị quyết số 57- NQ/TW. Một số nội dung trực tiếp liên quan đến Nghị quyết số 57-NQ/TW như sau: (1) Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 14/6/2025; (2) Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 ngày 25/6/2025; (3) Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 ngày 14/6/2025; (4) Luật số 90/2025/QH15; sửa đổi, bổ sung một số điều của 08 Luật thuộc ngành Tài chính: (i) Luật Đấu thầu; (ii) Luật PPP; (iii) Luật Hải quan; (iv) Luật Thuế GTGT; (v) Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; (vi) Luật Đầu tư; (vii) Luật Đầu tư công; (viii) Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; (5) Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025; (6) Luật Thuế Thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 ngày 10/12/202; (7) Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 ngày 11/12/2025; ngoài ra Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành 13 nghị định và 09 thông tư liên quan đến lĩnh vực Khoa học công nghệ, Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Về cải cách hành chính và phát triển dịch vụ công trực tuyến:

Bộ Tài chính đã triển khai rà soát, tái thiết kế quy trình nghiệp vụ; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm tối thiểu 30% thời gian xử lý, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết. Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2421/QĐ-BTC ngày 09/7/2025 phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi chức năng của Bộ Tài chính. Trong đó, Bộ đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản đơn giản hoá 136 TTHC (cắt giảm 54 TTHC, đơn giản hoá 82 TTHC) thuộc thẩm quyền của Bộ (gồm 39 TTHC thuộc lĩnh vực hải quan và 96 TTHC lĩnh vực thuế).

Đến nay, Bộ Tài chính đã thực thi 48/136 phương án đơn giản hoá (bao gồm: 05 phương án lĩnh vực thuế, 03 phương án lĩnh vực hải quan tại Thông tư số 31/2025/TT-BTC ngày 31/5/2025 của Bộ Tài chính; 30 phương án lĩnh vực thuế tại Thông tư số 94/2025/TT-BTC ngày 14/10/2025 của Bộ Tài chính; 02 phương án lĩnh vực hải quan tại Thông tư số 113/2025/TT-BTC ngày 09/12/2025; 08 phương án lĩnh vực hải quan tại Thông tư số 121/2025/TT-BTC ngày 18/12/2025. Tổng chi phí thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa tại Quyết định của Bộ Tài chính đến nay là: 1.623 tỷ đồng/3.826 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 42,42%. Tổng thời gian cắt giảm, đơn giản hóa tại Quyết định của Bộ Tài chính là: 286/728 ngày, đạt tỷ lệ: 39,28%.

Về việc chủ động rà soát cắt giảm, đơn giản hóa TTHC (bao gồm cả phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, Bộ Tài chính đã chủ động, rà soát thực hiện đơn giản hóa 408 TTHC (trong đó, cắt giảm 104, đơn giản hóa 304) tại các Luật, Nghị định, Thông tư do Bộ chủ trì xây dựng ban hành hoặc trình các cấp có thẩm quyền ban hành. Về kết quả đơn giản hóa TTHC và điều kiện kinh doanh theo Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ, tổng số TTHC Bộ Tài chính đề xuất thực hiện hiện cắt giảm, đơn giản hóa theo các Quyết định phê duyệt phương án của Bộ, Quyết định phê duyệt phương án của Thủ tướng và số chủ động cắt giảm đơn giản hóa là 755/928 TTHC, đạt tỷ lệ 81,36%.

Về dữ liệu số:

Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2570/ QĐ-BTC ngày 24/7/2025 về Kế hoạch triển khai xây dựng các Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ Tài chính theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ. Từng đơn vị được giao chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) cũng đã ban hành Kế hoạch triển khai chi tiết việc xây dựng CSDL và tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt. Hiện nay, CSDL quốc gia về Tài chính đã hoàn thành việc tích hợp với các CSDL chuyên ngành/Hệ thống gồm: CSDL chuyên ngành Kho bạc; CSDL chuyên ngành Thuế; CSDL chuyên ngành Hải quan; CSDL chuyên ngành Chứng khoán; CSDL Giá; CSDL Tài sản công; Hệ thống thông tin quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công; CSDL quốc gia về BHXH, CSDL Đấu Thầu, CSDL Đăng ký doanh nghiệp, CSDL về hợp tác xã, CSDL Doanh nghiệp nhỏ và vừa; CSDL Edoc-TC; Hệ thống báo cáo doanh nghiệp (Số liệu của 23 Tổng công ty, tập đoàn).

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, dữ liệu tài chính được xác định là nguồn tài nguyên chiến lược phục vụ chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách. Đối với Bộ Tài chính, thực hiện theo nhiệm vụ của Nghị quyết số 71/NQCP ngày 01/4/2025 về hoàn thành và chia sẻ dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia - Bộ Công an. Theo đó, Bộ Tài chính được giao hoàn thành và đồng bộ 16 CSDL, trong đó năm 2025 phải hoàn thành 13 CSDL. Kết quả triển khai này đã góp phần tạo lập nền tảng dữ liệu tài chính thống nhất, tăng cường khả năng chia sẻ, khai thác thông tin giữa các đơn vị trong ngành, hướng tới mục tiêu chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực tài chính công.

Về ứng dụng dịch vụ số:

Một số ứng dụng, dịch vụ số thường xuyên tương tác với người dân, doanh nghiệp tiếp tục được duy trì và được nghiên cứu để nâng cấp, mở rộng, thay thế và áp dụng nhiều công nghệ số tiên tiến như trợ lý ảo/ trí tuệ nhân tạo nhằm đáp ứng sự thay đổi về cơ chế, chính sách cũng như đáp ứng yêu cầu công việc trong bối cảnh mới như: (1) Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công (nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện kế hoạch vốn trung hạn đầu tư công, kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công, giúp cho việc quản lý vốn đầu tư công được hiệu quả, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế và tránh lãng phí nguồn lực; (2) Hệ thống thông tin giám sát đánh giá đầu tư (giúp nâng cao hiệu quả trong công tác giám sát tiến độ triển khai các dự án, giúp lãnh đạo Chính phủ đưa ra những quyết sách kịp thời để phân bổ nguồn lực đầu tư công phù hợp với bối cảnh thực tiến); (3) Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (đã tích hợp trợ lý ảo hỗ trợ tra cứu quy định pháp luật về đấu thầu, hướng dẫn quy trình đăng tải thông tin, nộp hồ sơ dự thầu, xử lý tình huống thường gặp; hỗ trợ giảm tải tổng đài và nâng cao chất lượng giải đáp); (4) Hệ thống đăng ký kinh doanh (đã tích Trợ lý ảo hỗ trợ tra cứu thủ tục thành lập, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, giải thể, tạm ngừng hoạt động; hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ trước khi nộp trực tuyến); (5) Hệ thống đầu tư nước ngoài đã (đã tích hợp chức năng tư vấn điều kiện đầu tư, quy trình cấp và điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; cung cấp thông tin thống kê, hướng dẫn kê khai trực tuyến) ...

MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ

Bên cạnh những kết quả nổi bật trong giai đoạn 2021-2025, việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chuyển đổi số của ngành Tài chính đến hết năm 2025 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tiếp tục khắc phục, cụ thể:

Thứ nhất, mức độ triển khai và khai thác chuyển đổi số chưa đồng đều giữa các lĩnh vực và đơn vị trong toàn ngành. Một số hệ thống thông tin chưa được khai thác đầy đủ các tính năng, còn tình trạng vận hành song song giữa quy trình điện tử và thủ công; tỷ lệ hồ sơ công việc được xử lý hoàn toàn trên môi trường số tại một số khâu nghiệp vụ chưa đạt mục tiêu đề ra. Việc ứng dụng các công nghệ mới như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo mới ở giai đoạn thử nghiệm, phạm vi triển khai còn hạn chế.

Thứ hai, chất lượng và mức độ liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin chưa thực sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân mảnh, thiếu tính kết nối giữa các hệ thống

Thứ ba, dịch vụ công trực tuyến mặc dù đã được cung cấp đầy đủ, toàn trình nhưng tỷ lệ hồ sơ phát sinh và xử lý hoàn toàn trực tuyến chưa ổn định, còn phụ thuộc vào thói quen và mức độ sẵn sàng của người dân, doanh nghiệp. Trải nghiệm người dùng đối với một số dịch vụ chưa thật sự thuận tiện; mức độ hài lòng tại một số thủ tục chưa đồng đều giữa các đơn vị.

Thứ tư, hạ tầng số và nền tảng công nghệ tại một số đơn vị, đặc biệt là ở địa phương, chưa được đầu tư đồng bộ; việc chuyển đổi toàn diện sang môi trường điện toán đám mây còn gặp khó khăn về cơ chế, nguồn lực và phương thức đầu tư. Một số hệ thống thông tin được xây dựng từ giai đoạn trước cần tiếp tục nâng cấp để đáp ứng yêu cầu mới về hiệu năng, an toàn, an ninh thông tin.

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI BỘ TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2026-2030

Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Bộ Chính trị, Chính phủ giao cũng như khắc phục những tồn tại, hạn chế trong giai đoạn 2021-2025, trong giai đoạn 2026- 2030, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ các nhóm nhiệm vụ giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách.

Bộ Tài chính sẽ tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành còn bất cập, chưa phù hợp với yêu cầu triển khai Bộ Tài chính số; ưu tiên các lĩnh vực: ngân sách nhà nước, thuế, tài sản công, đầu tư công, doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội, thống kê, đặc biêt là việc tham mưu, xây dựng, trình Chính phủ trình Quốc hội Luật hợp nhất giữa Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công để đáp ứng yêu cầu mới trong công tác quản lý Ngân sách nói chung; tiếp tục hoàn thiện Khung kiến trúc số Bộ Tài chính phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Kiến trúc Chính phủ số Việt Nam phiên bản mới; bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong đầu tư, phát triển hệ thống thông tin; hoàn thiện các chính sách khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số của Bộ Tài chính; từng bước hình thành thói quen giao dịch số; rà soát, đề xuất cơ chế thu hút, đào tạo, đãi ngộ nguồn nhân lực chuyển đổi số, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNTT, dữ liệu, AI, an toàn thông tin; tiếp tục nghiên cứu xây dựng, tái thiết kế 80% các quy trình nghiệp vụ kết hợp tạo lập, cập nhật, khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu, đảm bảo “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, làm cơ sở triển khai xây dựng, cập nhật, hoàn thiện, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành ưu tiên xây dựng thuộc quản lý của Bộ Tài chính theo Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện trong hệ thống chính trị.

Thứ hai, phát triển dữ liệu số.

Bộ Tài chính sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính; đẩy mạnh chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật dữ liệu đảm bảo “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; xây dựng, hoàn thiện các hệ thống thông tin quản lý ngân sách nhà nước thống nhất, tập trung, kết nối, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính; quản lý thống nhất thông tin, dữ liệu về ngân sách nhà nước và hướng dẫn kết nối, chia sẻ dữ liệu tài chính - ngân sách với các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Hệ thống thông tin quản lý ngân sách nhà nước, các cơ sở dữ liệu ngành tài chính được tích hợp, liên thông, phục vụ công tác quản lý ngân sách thống nhất, công khai, minh bạch; Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của Bộ Tài chính và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương ...

Thứ ba, các ứng dụng nghiệp vụ cốt lõi chuyên ngành của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính tiếp tục tập trung nghiên cứu, xây dựng phương án nâng cấp các hệ thống lõi của ngành như nâng cấp hệ thống quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS) thành nền tảng Kho bạc số (VDBAS), nâng cấp hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS) thành nền tảng Thuế điện tử, nâng cấp hệ thống thông quan hàng hóa tự động và một cửa quốc gia (VNACCS/VCIS) thành nền tảng Hải quan số, định hình xây dựng nền tảng quản lý ngân sách quốc gia đáp ứng yêu cầu hợp nhất giữa Luật NSNN và Luật đầu tư công theo tầm nhìn dài hạn, đảm bảo an toàn, liên tục, tiết kiệm.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  2. Bộ Tài chính (2025). Quyết định số 3546/QĐ-BTC ngày 20/10/2025 về Chiến lược chuyển đổi số Bộ Tài chính đến năm 2030.
  3. Bộ Tài chính (2026). Quyết định số 424/QĐ-BTC ngày 09/3/2026 về Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Tài chính năm 2026.
Bài đã đăng Tạp trí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 tháng 8/2026
Nguyễn Trung Hiếu
Thích

Tin liên quan