Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, bảo đảm các cân đối lớn của nền tài chính quốc gia

Bài viết đánh giá toàn diện bức tranh quản lý thu, chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025 và kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm 2026. Phân tích cho thấy cơ cấu thu ngân sách nhà nước có sự chuyển dịch bền vững khi thu nội địa ngày càng giữ vai trò chủ đạo, đồng thời quản lý chi ngân sách chuyển mạnh từ “chi đúng dự toán” sang “chi hiệu quả”, ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số và an sinh xã hội. Bên cạnh những kết quả tích cực từ đẩy mạnh chuyển đổi số (hóa đơn điện tử, eTax Mobile, Kho bạc số), bài viết chỉ ra những hạn chế, đặc biệt là trong giải ngân vốn đầu tư công. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện chính sách thu, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, củng cố an toàn tài khóa và đẩy mạnh tài chính số, góp phần bảo đảm các cân đối lớn và tạo dư địa phát triển bền vững cho nền tài chính quốc gia.

TS.Nguyễn Thị Hải Hà

Vụ Ngân sách nhà nước - Bộ Tài chính; Email: [email protected]

TS.Hà Thị Phương Thảo

Ủy ban Chứng khoán nhà nước; Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, nâng cao toàn diện đời sống nhân dân và tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Quốc hội đã thông qua Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 với nhiều đổi mới căn bản về quan điểm huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Các kế hoạch tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về năng suất, logistics, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế.

Năm 2026 là năm đầu triển khai các kế hoạch này. Mặc dù kết quả thực hiện đến nay nhìn chung tích cực và bám sát định hướng đề ra, song vẫn còn khoảng cách nhất định so với các mục tiêu của năm. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cơ hội và thách thức đan xen, việc tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực công có ý nghĩa then chốt, không chỉ nhằm hoàn thành các mục tiêu phát triển năm 2026 mà còn tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả giai đoạn 2026-2030.

Bài viết này tập trung phân tích kết quả quản lý thu, chi NSNN giai đoạn 2021-2025 và cập nhật thực trạng 6 tháng đầu năm 2026. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường cơ cấu lại NSNN, hiện đại hóa quản trị tài khóa số và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, góp phần bảo đảm các cân đối lớn của nền tài chính quốc gia và tạo dư địa vững chắc cho phát triển bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: MỞ RỘNG CƠ SỞ THU, HIỆN ĐẠI HÓA QUẢN TRỊ VÀ NUÔI DƯỠNG NGUỒN THU BỀN VỮNG

Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong quản lý thu NSNN, tổng thu NSNN cả giai đoạn đạt gần 9,9 triệu tỷ đồng, vượt mục tiêu Quốc hội giao; tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân đạt trên 18% GDP, cao hơn mục tiêu khoảng 16% GDP, trong khi thực hiện miễn giảm gia hạn với quy mô lớn, lên tới 400 nghìn tỷ đồng. Kết quả này phản ánh hiệu quả điều hành chính sách tài khóa theo hướng linh hoạt, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm nguồn thu bền vững cho NSNN.

Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu tăng thu NSNN ở mức cao gắn với mục tiêu tăng tưởng kinh tế 02 chữ số, hoàn thiện hệ thống thu NSNN, mở rộng cơ sở thuế, nâng cao tính công khai, minh bạch, hiện đại hóa quy trình, công tác quản lý thu, xây dựng hệ thống quản trị thuế thông minh, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các nguồn thu của ngân sách nhà nước; tăng cường công tác chống thất thu, gian lận thuế và chống chuyển giá; tập trung xử lý, thu hồi tối đa các khoản nợ thuế, phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đọng thuế, phí dưới 5% tổng số thu ngân sách nhà nước.

Triển khai Kế hoạch tài chính quốc gia giai đoạn 2026-2030, công tác quản lý thu NSNN tiếp tục được đổi mới theo hướng hoàn thiện thể chế, hiện đại hóa quản lý và mở rộng cơ sở thu, tạo nền tảng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và bảo đảm nguồn thu bền vững cho NSNN.

Trước hết, hệ thống chính sách thuế được rà soát, hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch, hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu huy động nguồn lực và thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhiều chính sách đã được sửa đổi nhằm khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; nâng ngưỡng chịu thuế đối với thuế thu nhập cá nhân; từng bước thay thế cơ chế thuế khoán bằng phương thức tự kê khai; mở rộng ưu đãi thuế đối với các hoạt động xanh, công nghệ cao; đồng thời tiếp tục cải cách thuế giá trị gia tăng và đẩy nhanh hoàn thuế, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Cùng với hoàn thiện chính sách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế tiếp tục là trọng tâm cải cách. Luật Quản lý thuế sửa đổi có hiệu lực từ tháng 7/2026 tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi sang phương thức quản lý dựa trên rủi ro, ứng dụng công nghệ số và lấy người nộp thuế làm trung tâm. Ngành Thuế đã triển khai đồng bộ các dịch vụ thuế điện tử trên phạm vi toàn quốc; mở rộng áp dụng hóa đơn điện tử, đặc biệt là hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền đối với các lĩnh vực có rủi ro thất thu cao như bán lẻ, ăn uống, khách sạn, vận tải và dịch vụ tiêu dùng. Đồng thời, cơ sở dữ liệu người nộp thuế tiếp tục được kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đăng ký doanh nghiệp, đất đai, ngân hàng và các nền tảng thương mại điện tử, tạo điều kiện chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý dựa trên phân tích dữ liệu và đánh giá rủi ro, nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và giảm chi phí tuân thủ.

THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026

STT

Chỉ tiêu Thu - Chi Ngân sách

Dự toán năm 2026 (Tỷ đồng)

Ước thực hiện 6 tháng (Tỷ đồng)

Tỷ lệ %/Dự toán

So cùng kỳ năm 2025 (%)

A

TỔNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.529.467

1.565.414

61,9%

117,2%

1

Thu nội địa

2.199.967

1.351.359

61,4%

116,4%

2

Thu từ dầu thô

43.000

30.975

72,0%

125,6%

3

Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu

278.000

182.230

65,6%

122,0%

B

TỔNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

3.159.106

1.098.150

34,8%

95,7%

1

Chi Đầu tư phát triển

1.120.227

317.650

28,4%

101,3%

2

Chi Trả nợ lãi

121.131

58.800

48,5%

105,6%

3

Chi Thường xuyên

1.808.996

720.000

39,8%

92,8%

Nguồn: Bộ Tài chính

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, quản lý thu đối với thương mại điện tử và các dịch vụ xuyên biên giới được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Bộ Tài chính đã từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với nhà cung cấp nước ngoài; đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài, đồng thời tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, ngân hàng, sàn thương mại điện tử và các tổ chức trung gian thanh toán nhằm kiểm soát doanh thu, dòng tiền và hạn chế thất thu. Việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với tài sản số, tài sản mã hóa và các mô hình kinh doanh mới sẽ góp phần bảo đảm mọi hoạt động phát sinh thu nhập đều được quản lý thuế công bằng, minh bạch.

Bên cạnh mở rộng cơ sở thu, chống thất thu tiếp tục được đẩy mạnh thông qua tăng cường thanh tra, kiểm tra các lĩnh vực có rủi ro cao như chuyển giá, giao dịch liên kết, bất động sản, thương mại điện tử và kinh doanh xuyên biên giới. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chống thất thu chỉ là giải pháp trước mắt. Về dài hạn, nguồn thu NSNN chỉ thực sự bền vững khi chính sách thuế tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển chính thức. Vì vậy, định hướng xuyên suốt là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy chuyển đổi số và mở rộng cơ sở thuế, qua đó nuôi dưỡng nguồn thu bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc điều hành chính sách tài khóa đồng bộ với cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/ TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính Trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đã góp phần đưa tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8,18%, mức cao nhất kể từ năm 2011.

Nhờ tăng trưởng kinh tế tích cực và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế, hải quan, thu NSNN 6 tháng đầu năm đạt 1.565,4 nghìn tỷ đồng, bằng 61,9% dự toán, tăng 17,2% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 1.351,4 nghìn tỷ đồng (bằng 61,4% dự toán), thu từ ba khu vực kinh tế đạt 712,2 nghìn tỷ đồng, tăng 38,4%; thu từ dầu thô đạt gần 31 nghìn tỷ đồng, tăng 25,6% và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 182,2 nghìn tỷ đồng, tăng 22%.

Nhìn chung, thu nội địa ngày càng giữ vai trò chủ đạo, giai đoạn 2021-2025, thu nội địa bình quân chiếm gần 84% tổng thu NSNN; riêng năm 2025 đạt khoảng 86%, trong khi tỷ trọng thu từ dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục giảm.

Có thể khẳng định, quản lý thu NSNN đang chuyển từ tư duy “quản lý nguồn thu hiện có” sang “quản trị toàn diện nguồn thu trong mối quan hệ với phát triển kinh tế”. Quản lý thu NSNN để phát triển kinh tế; phát triển kinh tế để tạo nguồn thu. Đây là nền tảng để xây dựng hệ thống thu ngân sách hiệu quả, hiệu lực, song hành với phát triển kinh tế - xã hội, qua đó tạo nguồn thu ngân sách bền vững và củng cố an toàn tài chính quốc gia.

CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÂN BỔ, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC, THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG

Nguồn thu ngân sách chỉ thực sự bền vững khi được sử dụng hiệu quả, hướng tới các mục tiêu phát triển dài hạn của nền kinh tế. Do đó, việc cơ cấu lại chi NSNN theo hướng giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao năng lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Bình quân giai đoạn 2021-2025, chi đầu tư phát triển chiếm trên 33% tổng chi NSNN, trong khi tỷ trọng chi thường xuyên giảm xuống khoảng 60% tổng chi ngân sách. Việc duy trì tỷ trọng chi đầu tư phát triển ở mức cao không chỉ góp phần kích thích tổng cầu trong ngắn hạn mà còn tạo nền tảng nâng cao năng suất của nền kinh tế thông qua phát triển kết cấu hạ tầng, hạ tầng số, năng lượng, logistics và các lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh.

Trong giai đoạn dịch COVID-19, NSNN đã phát huy vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng khi tập trung nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, đồng thời triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với quy mô lớn. Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi, chính sách chi ngân sách được điều chỉnh theo hướng ưu tiên các nhiệm vụ có tính chất chiến lược, tạo động lực tăng trưởng trong trung và dài hạn.

Đến giai đoạn 2025-2026, NSNN tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện các chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế pháp luật; đồng thời bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội, ưu đãi người có công, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ cấp bách khác. Đây là định hướng phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, công tác quản lý chi NSNN tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, phân công, phân nhiệm gắn với cá thể hóa trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả sử dụng ngân sách, bảo đảm nguồn lực ngân sách đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả cao nhất.

Để đáp ứng yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho giai đoạn phát triển mới, ngành Tài chính đã chủ trì trình sửa đổi đồng bộ pháp luật về NSNN, đầu tư công và đấu thầu theo ba nguyên tắc xuyên suốt: đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể thực hiện, đồng thời mở rộng áp dụng chỉ định thầu và lựa chọn nhà thầu trong các trường hợp đặc biệt.

Trên cơ sở đó, nhiều cải cách quan trọng đã được thể chế hóa. Pháp luật hiện hành đã phân cấp mạnh cho bộ, ngành và địa phương quyết định chủ trương, quyết định đầu tư đối với hầu hết các nhiệm vụ, dự án (trừ chương trình mục tiêu quốc gia và dự án trọng điểm quốc gia), bãi bỏ thủ tục thông báo vốn, cho phép bố trí kinh phí ngay sau khi có chủ trương đầu tư, qua đó rút ngắn khoảng 9 tháng thời gian phê duyệt và giao vốn so với trước đây. Đối với chi thường xuyên, dự toán được lập trên cơ sở các nhiệm vụ phát sinh theo chủ trương, kế hoạch của cấp có thẩm quyền, thay vì chỉ giới hạn trong các nhiệm vụ đã được phê duyệt theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức.

Đồng thời, pháp luật đã bổ sung loại hình dự án đầu tư công đặc biệt, cho phép áp dụng quy trình rút gọn, không phải phê duyệt chủ trương đầu tư; mở rộng phạm vi sử dụng chi thường xuyên để mua sắm, sửa chữa, cải tạo tài sản, thuê hàng hóa, dịch vụ và thực hiện các nhiệm vụ cần thiết. Quyền tự chủ của chủ đầu tư và tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học, công nghệ cũng được tăng cường thông qua việc tự quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu, đồng thời mở rộng các trường hợp chỉ định thầu, giúp cắt giảm từ 3-6 thủ tục, rút ngắn 30-80 ngày so với đấu thầu thông thường; riêng thời gian chỉ định thầu chỉ còn 3-7 ngày.

Để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng NSNN, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 135/NQ-CP ngày 22/5/2026 và Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026, yêu cầu triệt để tiết kiệm các khoản chi chưa thực sự cần thiết; cắt giảm các khoản chi thường xuyên đã giao đầu năm nhưng đến 30/6/2026 chưa phân bổ.

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23/4/2026 về tăng cường quản lý, sử dụng vốn đầu tư công gắn với đánh giá hiệu quả đầu tư và đẩy nhanh xây dựng Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Quyết định số 1129/ QĐ-TTg ngày 24/6/2026 về chấm điểm kết quả giải ngân vốn đầu tư công của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương nhằm nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Cùng với đó, Chính phủ đẩy mạnh phân cấp, điều chuyển vốn từ các dự án giải ngân chậm sang dự án có khả năng giải ngân tốt hơn, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân và tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.

Thực hiện 6 tháng đầu năm 2026, tổng chi NSNN ước đạt 1.098,2 nghìn tỷ đồng, bằng 34,8% dự toán. Trong đó, chi thường xuyên đạt khoảng 720 nghìn tỷ đồng, bằng 39,8% dự toán, bảo đảm kịp thời kinh phí cho hoạt động của bộ máy nhà nước, chi trả tiền lương, lương hưu, trợ cấp xã hội, quốc phòng, an ninh và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Chi đầu tư phát triển đạt 317,7 nghìn tỷ đồng, bằng 28,4% dự toán Quốc hội giao và 30,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tiếp tục giữ vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh đầu tư tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài chịu tác động của những bất ổn kinh tế toàn cầu, qua đó góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt mức cao so với cùng kỳ các năm. Chi trả nợ lãi đạt 58,8 nghìn tỷ đồng, bằng 48,5% dự toán, bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ, qua đó duy trì uy tín và xếp hạng tín nhiệm quốc gia.

Cùng với đó, công tác quản lý chi NSNN cũng đang được hiện đại hóa mạnh mẽ thông qua xây dựng Kho bạc số và quản trị ngân quỹ hiện đại. Việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến, sử dụng chứng từ điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và kết nối dữ liệu với các cơ quan tài chính, thuế, hải quan, ngân hàng đã giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí hành chính và nâng cao tính công khai, minh bạch trong kiểm soát chi ngân sách.

Đồng thời, việc quản lý ngân quỹ tập trung đã nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của NSNN, giảm nhu cầu vay ngắn hạn và tiết kiệm chi phí lãi vay. Nhìn tổng thể, quản lý chi NSNN ở Việt Nam đang chuyển từ mục tiêu bảo đảm “chi đúng dự toán” sang “chi hiệu quả, tạo giá trị gia tăng và thúc đẩy phát triển”. Sự chuyển đổi này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công mà còn tạo dư địa tài khóa để thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn, củng cố nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động của kinh tế thế giới.

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU, CHI NSNN NHẰM BẢO ĐẢM CÁC CÂN ĐỐI LỚN CỦA NỀN TÀI CHÍNH QUỐC GIA VÀ TẠO DƯ ĐỊA CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Mặc dù kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 nhìn chung tích cực, song vẫn còn khoảng cách đáng kể so với mục tiêu đề ra. Tăng trưởng GDP đạt 8,18%, trong khi để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% của cả năm, nền kinh tế cần đạt khoảng 11,7% trong 6 tháng cuối năm. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn là điểm nghẽn; tỷ lệ giải ngân cũng thấp hơn cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, công tác huy động vốn cho NSNN còn chịu nhiều áp lực do tiến độ giải ngân chậm và mặt bằng lãi suất thị trường có xu hướng tăng.

Thời gian tới, nhằm tăng cường quản lý thu, chi NSNN, nhằm bảo đảm các cân đối lớn của nền tài chính quốc gia và tạo dư địa cho phát triển bền vững, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới quản trị tài chính công và nâng cao hiệu lực bộ máy quản lý nhà nước. Trọng tâm là đẩy mạnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính và hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập; hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, tài chính số và dịch vụ công trực tuyến lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, bảo đảm quá trình thực thi chính sách tài chính - ngân sách thông suốt, hiệu quả.

Thứ hai, tiếp tục cơ cấu lại nguồn thu NSNN theo hướng bền vững. Cần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế theo hướng mở rộng cơ sở thu, giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn thu truyền thống và tăng khả năng thích ứng với các mô hình kinh doanh mới. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với thương mại điện tử, kinh tế nền tảng, dịch vụ xuyên biên giới, tài sản số và các hoạt động kinh doanh trên môi trường số; đồng thời, nghiên cứu điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết hội nhập, lồng ghép các mục tiêu phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Cùng với đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế thông qua khai thác dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro, mở rộng kết nối dữ liệu với các bộ, ngành, ngân hàng và nền tảng số nhằm giảm thất thu, nâng cao hiệu quả quản lý và giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế.

Thứ ba, nâng cao chất lượng cơ cấu chi NSNN và hiệu quả đầu tư công. Trong bối cảnh nhu cầu nguồn lực cho phát triển ngày càng lớn, việc phân bổ ngân sách cần chuyển mạnh từ tư duy dàn trải sang tập trung vào chất lượng và hiệu quả đầu tư. Nguồn lực NSNN cần ưu tiên cho các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng dài hạn như kết cấu hạ tầng chiến lược, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, tiếp tục cơ cấu lại nhiệm vụ chi, tiết kiệm triệt để chi thường xuyên, mở rộng phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra gắn với trách nhiệm giải trình. Đối với đầu tư công, cần hoàn thiện cơ chế phân cấp, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, đẩy nhanh chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục và tăng cường đánh giá hiệu quả sau đầu tư làm cơ sở cho việc lựa chọn, phân bổ vốn trong các giai đoạn tiếp theo.

Thứ tư, bảo đảm an toàn tài khóa và tăng cường phối hợp chính sách vĩ mô. Quản lý NSNN cần gắn với mục tiêu duy trì bội chi, nợ công, nợ Chính phủ và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ trong giới hạn cho phép. Công tác quản lý nợ công cần tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, kéo dài kỳ hạn danh mục nợ, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư và phát triển bền vững thị trường trái phiếu chính phủ. Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm vừa kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý ngân sách và quản trị ngân quỹ. Chuyển đổi số cần trở thành động lực nâng cao hiệu quả quản lý thu, chi NSNN và hiện đại hóa nền tài chính quốc gia. Trọng tâm là xây dựng nền tài chính số, mở rộng thanh toán điện tử, chứng từ số, kết nối dữ liệu giữa hệ thống kho bạc nhà nước với cơ quan thuế, hải quan, tài chính, ngân hàng và các cơ quan liên quan. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ phân tích hiện đại trong dự báo dòng tiền ngân sách, quản lý ngân quỹ và hỗ trợ ra quyết định điều hành tài khóa.

Thứ sáu, nâng cao năng lực quản trị rủi ro tài khóa và tăng cường kỷ luật ngân sách. Cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ quản lý rủi ro tài khóa theo thông lệ quốc tế; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các nguy cơ mất cân đối NSNN, nợ công, nghĩa vụ nợ dự phòng và các rủi ro từ doanh nghiệp nhà nước, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và biến động của thị trường tài chính quốc tế. Bên cạnh đó, cần tăng cường công khai, minh bạch ngân sách, nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị sử dụng ngân sách và đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện kỷ luật tài khóa. Việc kết hợp hiệu quả giữa quản trị rủi ro, chuyển đổi số và phân bổ nguồn lực theo các ưu tiên chiến lược sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, tạo nền tảng tài chính quốc gia an toàn, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Tài chính (2021). Chiến lược tài chính đến năm 2030 (Ban hành kèm theo Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ).
  2. Bộ Tài chính (2025). Báo cáo tổng kết công tác tài chính - ngân sách nhà nước năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
  3. Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2026.
  4. Chính phủ (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2026.
  5. Quốc hội (2025). Luật Ngân sách nhà nước (Luật số 89/2025/QH15, ban hành ngày 25/6/2025).
Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 8/2026
Nguyễn Thị Hải Hà - Hà Thị Phương Thảo
Thích

Tin liên quan