Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Muốn giảm chi phí vốn cho tăng trưởng, phải mở dư địa mới

TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng việc dùng các thước đo như ICOR để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn gắn với tăng trưởng kinh tế là hợp lý. Việc so sánh với kinh nghiệm quốc tế, nhất là những kinh nghiệm thực tiễn tốt, có bằng chứng và có những điểm tương đồng, cũng là một cách tiếp cận hiện đại và tiến bộ.

Muốn giảm chi phí vốn cho tăng trưởng, phải mở dư địa mới
TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Phóng viên: Thưa ông, ICOR đang được nhắc đến nhiều như một thước đo hiệu quả tăng trưởng, nhưng cần nhìn nhận chỉ số này như thế nào để đúng bản chất của vấn đề?

ICOR cũng như năng suất lao động hay năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đều là những công cụ phản ánh hiệu quả sử dụng, phân bổ và quản lý các nguồn lực, từ đó cho thấy chất lượng của tăng trưởng kinh tế nói chung. Tuy nhiên, với riêng ICOR, cần hiểu rằng đây là công cụ đo lường có nhiều giả định. Muốn so sánh chính xác thì phải đặt các chủ thể trong những điều kiện tương đồng về môi trường, ngành nghề, năng lực, trình độ phát triển... Trong thực tế, điều đó không đơn giản.

Vì vậy, tôi cho rằng, ICOR là một chỉ báo quan trọng, nhưng không nên nhìn theo cách quá cơ học. ICOR giúp cho chúng ta thấy xu hướng và chất lượng sử dụng vốn của nền kinh tế, nhưng để lý giải vì sao tăng hay giảm thì phải đặt trong bối cảnh rộng hơn, từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ cho tới chất lượng lao động và thể chế.

Muốn giảm ICOR, muốn tăng trưởng tốt hơn, thì phải tạo ra không gian mới, tức là phải mở ra các mô hình kinh tế mới, các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo...

Nếu không làm được điều đó thì nền kinh tế vẫn sẽ phải dựa nhiều vào tăng vốn để tăng sản lượng, tức là tiếp tục đi theo con đường tăng trưởng thâm dụng vốn.

Phóng viên: Nhìn từ thực tiễn Việt Nam, theo ông, vì sao ICOR có xu hướng tăng lên trong quá trình phát triển?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Nếu nhìn lại giai đoạn đầu đổi mới, khi Việt Nam bắt đầu chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, cho phép sở hữu tư nhân, tự chủ kinh tế, tự do kinh doanh và dịch chuyển cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thì năng suất lao động tăng rất nhanh. Trong giai đoạn đó, ICOR thấp hơn, tức là đồng vốn được sử dụng hiệu quả hơn.

Nhưng sau đó, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, từ thu nhập thấp lên trung bình rồi đến trung bình cao, chúng ta buộc phải đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng, con người, máy móc, thiết bị, đặc biệt là cho công nghệ. Trước đây có thể làm gia công, lắp ráp, thâm dụng lao động, vốn bỏ ra ít nhưng tạo giá trị gia tăng khá nhanh. Còn hiện nay, nếu muốn đi lên những nấc thang cao hơn, muốn gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu thì chúng ta phải đầu tư nhiều hơn vào tài sản cố định, công nghệ, máy móc, năng lực sản xuất của tương lai.

Một điểm rất quan trọng là Việt Nam chưa tự chủ được công nghệ nguồn, công nghệ lõi. Khi phụ thuộc vào nhập khẩu công nghệ thì riêng phần đầu tư cho công nghệ đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư. Điều đó làm ICOR tăng lên là điều có thể hiểu được trong quá trình phát triển.

Nhưng cũng cần lưu ý vấn đề về độ trễ của cải cách thể chế. Giai đoạn mở cửa ban đầu tạo ra một làn sóng đổi mới rất mạnh, tạo không gian lớn cho sáng kiến, sáng tạo và tăng trưởng. Nhưng dần dần dư địa đó thu hẹp lại. Nên hiện nay, muốn giảm ICOR, muốn tăng trưởng tốt hơn, thì phải tạo ra không gian mới, tức là phải mở ra các mô hình kinh tế mới, các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nếu không làm được điều đó thì nền kinh tế vẫn sẽ phải dựa nhiều vào tăng vốn để tăng sản lượng, tức là tiếp tục đi theo con đường tăng trưởng thâm dụng vốn. Khi đó, ICOR khó mà giảm được.

Phóng viên: Với mục tiêu kéo giảm ICOR trong thời gian tới, đâu là điểm mấu chốt cần xử lý, thưa ông?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Điều quan trọng nhất không phải là chỉ nhìn vào vốn rồi tìm cách quản chặt vốn theo nghĩa hẹp, mà là phải nâng được năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), tức là nâng hiệu quả tổng hợp của cả nền kinh tế. Trong các văn kiện lớn gần đây của Đảng và Chính phủ, mục tiêu nâng đóng góp của TFP lên khoảng 55% trong giai đoạn 2026-2030 và sau đó tiến tới 60% đã được đặt ra rất rõ. Đó mới là gốc của vấn đề.

Khi TFP tăng lên, có nghĩa là cùng một đồng vốn và cùng một đơn vị lao động bỏ ra, chúng ta tạo được nhiều giá trị gia tăng hơn. Muốn vậy thì phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế.

Cải cách thể chế là để tránh méo mó thị trường, để vốn không bị đẩy vào những lĩnh vực đầu cơ, không chạy theo lợi ích thân hữu hay những chỗ tạo tiền nhanh nhưng không tạo ra giá trị bền vững. Khi tín hiệu thị trường được thiết lập công bằng, minh bạch, công khai, đúng quy luật, thì khu vực tư nhân sẽ phân bổ nguồn lực tốt hơn và vốn chảy vào sản xuất kinh doanh hoặc những khu vực có năng suất cao hơn.

Với khu vực nhà nước, cần nhìn vấn đề một cách hợp lý hơn. Có những lĩnh vực mang tính công ích, đảm bảo an sinh xã hội, hạ tầng nền tảng, chiến lược dài hạn thì không thể đòi hỏi hiệu quả tài chính ngắn hạn như đối với khu vực tư nhân. Việc đầu tư vào giáo dục bậc cao, đào tạo nghề, hạ tầng năng lượng, truyền tải điện hay những dự án lớn có tính lan tỏa thì phải nhìn vào hiệu quả tổng thể, hiệu quả kết nối.

Ví dụ Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành hay Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam thì cần xác định đây là các dự án hạ tầng chiến lược, thời gian hoàn vốn dài, không thể đánh giá hiệu quả chỉ bằng lợi nhuận hay tỷ lệ giá trị gia tăng trên vốn trong ngắn hạn. Giá trị cốt lõi của các dự án này nằm ở hiệu quả lan tỏa như tăng kết nối, hình thành ngành nghề mới, giảm chi phí logistics và nâng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Vì vậy, với các dự án quy mô lớn sử dụng nguồn lực nhà nước, cần đặt trọng tâm vào khâu lựa chọn, chuẩn bị đầu tư và tăng cường giám sát, đôn đốc tiến độ thực hiện.

Tôi kỳ vọng nếu các định hướng mới được triển khai tốt, đặc biệt là tách bạch rõ nhiệm vụ công ích với hoạt động kinh doanh, trao quyền tự chủ rõ ràng hơn cho doanh nghiệp nhà nước theo đúng tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã đặt ra, đồng thời tạo môi trường thị trường minh bạch hơn cho khu vực tư nhân, thì chúng ta sẽ có điều kiện để nâng TFP, cải thiện năng suất lao động và từ đó kéo giảm ICOR theo hướng bền vững hơn.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!

Hương Dịu (thực hiện)
Thích

Tin liên quan