![]() |
| Biết lãi suất trực tuyến tại VPBank. |
VPBank nâng lãi suất lên 7,9%/năm
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) vừa công bố biểu lãi suất huy động vốn bằng VND dành cho khách hàng cá nhân, áp dụng từ ngày 12/10/2026.
Theo biểu lãi suất mới, đối với sản phẩm tiết kiệm thường lĩnh lãi cuối kỳ qua kênh trực tuyến, VPBank áp dụng mức 7,9%/năm cho cả hai kỳ hạn 15 và 18 tháng, không phân biệt số tiền gửi.
So với biểu lãi suất áp dụng từ ngày 23/9/2026, mức lãi suất này tăng 0,8 điểm phần trăm, từ 7,1%/năm lên 7,9%/năm. Các kỳ hạn trực tuyến còn lại không thay đổi. Cụ thể, kỳ hạn 1 - 5 tháng tiếp tục được niêm yết ở mức 4,75%/năm; kỳ hạn 6 - 11 tháng là 7%/năm; kỳ hạn 12 - 13 tháng và 24 tháng cùng ở mức 7,1%/năm, trong khi kỳ hạn 36 tháng là 6%/năm.
Ở kênh gửi tiền tại quầy, VPBank giữ nguyên mức lãi suất 4,45%/năm đối với kỳ hạn 1 - 2 tháng, 4,65%/năm đối với kỳ hạn 3 - 5 tháng, 6,8%/năm đối với kỳ hạn 6 - 11 tháng và 6,9%/năm đối với các kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng. Riêng kỳ hạn 36 tháng được niêm yết ở mức 5,8%/năm.
Đáng chú ý, ngoài mức lãi suất niêm yết 7,9%/năm, VPBank còn áp dụng chính sách cộng thêm lãi suất đối với một số nhóm khách hàng đáp ứng điều kiện về phân khúc và quy mô tiền gửi.
Theo quy định tại biểu lãi suất mới, khách hàng thuộc phân khúc Private gửi tiền kỳ hạn từ một tháng trở lên được cộng thêm 0,1 điểm phần trăm nếu số tiền gửi từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, hoặc 0,3 điểm phần trăm nếu gửi từ 500 triệu đồng trở lên.
Đối với khách hàng tham gia chương trình Ngân hàng gia đình ưu tiên (Family Banking), VPBank áp dụng mức cộng thêm từ 0,2 đến 0,4 điểm phần trăm tùy phân hạng và quy mô tiền gửi. Chương trình áp dụng đối với khoản tiền gửi mới hoặc tái tục từ 100 triệu đồng, kỳ hạn tối thiểu một tháng và đáp ứng các điều kiện liên quan.
Trong đó, khách hàng thuộc phân hạng Premier và Heritage được cộng thêm 0,4 điểm phần trăm khi gửi từ 500 triệu đồng trở lên. Với mức lãi suất niêm yết 7,9%/năm tại kỳ hạn 15 - 18 tháng, lãi suất sau ưu đãi có thể đạt 8,3%/năm nếu khách hàng đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Khảo sát biểu lãi suất tại các ngân hàng cho thấy, sự phân hóa vẫn diễn ra rõ nét, đặc biệt ở những kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Ở kỳ hạn 3 tháng, mức lãi suất 4,75%/năm tiếp tục xuất hiện tại nhiều ngân hàng như BAC A BANK, MBV, PGBank, PVcomBank, OCB, BVBank, Sacombank, VPBank và BIDV. Trong khi đó, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 2,4%/năm, Agribank ở mức 2,9%/năm.
Đối với kỳ hạn 6 tháng, Cake by VPBank có mức lãi suất tối đa 9,4%/năm theo chương trình cộng thêm lãi suất có điều kiện. Nếu không tính các khoản thưởng, Sacombank niêm yết mức 7,2%/năm đối với tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng, BAC A BANK đạt 7,05%/năm; VCBNeo, LPBank, MBV cùng ở mức 7%/năm.
Ở nhóm thấp hơn, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 3,5%/năm, Agribank 4%/năm và SCB 2,9%/năm.
Tại kỳ hạn 12 tháng, Cake by VPBank tiếp tục có mức lãi suất sau ưu đãi lên tới 9,6%/năm, áp dụng đối với khách hàng đáp ứng điều kiện của chương trình cộng thêm 2,2 điểm phần trăm, triển khai từ ngày 22/9 đến hết ngày 31/10/2026.
Theo biểu lãi suất thông thường, Cake by VPBank niêm yết 7,4%/năm đối với tiền gửi lĩnh lãi cuối kỳ ở kỳ hạn từ 10 đến 24 tháng. Mức 9,6%/năm chỉ áp dụng cho các kỳ hạn và đối tượng đủ điều kiện ưu đãi, không phải lãi suất đại trà.
Trong khi đó, Sacombank niêm yết mức 7,5%/năm đối với tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng ở kỳ hạn 12 tháng. LPBank và SaigonBank cùng áp dụng 7,2%/năm; BAC A BANK ở mức 7,1%/năm; VCBNeo, MBV, PGBank và VIB cùng niêm yết 7%/năm.
Vietcombank, VietinBank và Agribank cùng áp dụng mức 5,9%/năm ở kỳ hạn này, thấp hơn 1,6 điểm phần trăm so với mức niêm yết cao nhất của Sacombank trong bảng khảo sát, nếu không tính các chương trình cộng lãi suất.
Đối với kỳ hạn 24 tháng, Sacombank niêm yết mức cao nhất trong bảng khảo sát với 7,8%/năm dành cho khoản tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng. Cake by VPBank đạt 7,4%/năm, LPBank 7,2%/năm, VPBank 7,1%/năm; VCBNeo, MBV và MBBank cùng ở mức 7%/năm.
Các mức lãi suất cao cho thấy cạnh tranh huy động vốn vẫn hiện hữu, nhất là đối với nguồn tiền gửi trung và dài hạn. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô quý III/2026 của S&I Ratings, đến cuối tháng 9, tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn tăng 9,78%. Dù tốc độ huy động đã cải thiện đáng kể trong quý III, tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn tăng trưởng huy động.
S&I Ratings nhận định, thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã cải thiện trong tháng 9, song nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và các dự án đầu tư vẫn duy trì ở mức lớn. Áp lực huy động vốn vì thế tiếp tục là vấn đề đáng chú ý trong những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển thêm các kênh cung ứng vốn trung và dài hạn.
![]() |
| Diễn biến tỷ giá USD và VND. |
Tỷ giá VND/USD bật tăng
Trên thị trường ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.633 VND/USD, tăng 12 đồng so với mức 25.621 VND/USD ngày 12/10. Với biên độ giao dịch ±5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 24.351 - 26.915 VND/USD.
Tại Vietcombank, vào lúc 8 giờ 15 phút, giá USD được niêm yết ở mức 25.730 - 26.110 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 40 đồng ở cả hai chiều so với sáng 12/10.
Cùng thời điểm, BIDV điều chỉnh tăng 50 đồng ở cả chiều mua và bán, đưa tỷ giá lên mức 25.740 - 26.120 VND/USD (mua vào - bán ra). Giá bán USD tại BIDV cao hơn Vietcombank 10 đồng.
Diễn biến tăng trở lại của giá USD xuất hiện sau giai đoạn tỷ giá trong nước hạ nhiệt vào tháng 9. Theo báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô của Vietcap, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng kết thúc tháng 9 ở mức 25.964 VND/USD, giảm 0,4% so với tháng 8 và giảm 1,3% so với đầu năm.
Vietcap cho biết, sự phục hồi của VND trong tháng 9 được hỗ trợ bởi áp lực trên thị trường ngoại tệ tự do giảm, giá vàng trong nước hạ nhiệt, cán cân thương mại tháng 9 chuyển sang thặng dư và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì tích cực.
Đáng chú ý, Vietcap đã điều chỉnh dự báo tỷ giá cuối năm 2026 về mức không đổi so với cuối năm 2025, thay cho dự báo tăng 2% trước đó.
Tuy nhiên, tổ chức này cũng lưu ý khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất trong tháng 12, cùng với tình trạng thâm hụt thương mại, có thể gây áp lực lên VND trong quý IV. Những yếu tố này được kỳ vọng sẽ được bù đắp một phần bởi dòng vốn FDI, kiều hối và sự hạ nhiệt của thị trường ngoại tệ tự do, thị trường vàng trong nước.
Trên thị trường quốc tế, đồng USD duy trì sức mạnh ở mức trên 102,4 điểm sau 4 tuần tăng liên tiếp, trong bối cảnh giới đầu tư tiếp tục đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Fed. Những kỳ vọng về mặt bằng lãi suất Mỹ, cùng diễn biến địa chính trị và giá năng lượng, tiếp tục là các yếu tố tác động đến thị trường ngoại hối.




