Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giữ vững ổn định kinh tế trong khủng hoảng năng lượng

Phát biểu tại Hội thảo “Biến động địa – chính trị và chiến lược đảm bảo năng lượng” do Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh (BCSI) phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, nhấn mạnh: Cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay không phải lần đầu tiên xảy ra. Nguyên nhân mỗi lần khủng hoảng đều khác nhau, từ cuộc khủng hoảng dầu năm 1973, 1978, đến các cuộc khủng hoảng gần đây như tác động từ xung đột Ukraine – Nga. Mỗi lần khủng hoảng đều để lại bài học quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và Việt Nam, cũng như tác động trực tiếp tới doanh nghiệp.

Giữ vững ổn định kinh tế trong khủng hoảng năng lượng
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng toàn cầu ngày càng phức tạp, việc ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi một cách tiếp cận chủ động, toàn diện và có tầm nhìn dài hạn.

Nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế

 

Giữ vững ổn định kinh tế trong khủng hoảng năng lượng

TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh.

“Điều quan trọng cần khẳng định là dù thế giới có phát triển tới công nghiệp 6.0, các vấn đề cơ bản như năng lượng, an ninh năng lượng, lương thực và các yếu tố nền tảng khác vẫn quyết định sự vận hành bình thường của xã hội. Những vấn đề rất thực, rất cụ thể này luôn là nền tảng cho cuộc sống và kinh tế” – TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.

Thực tế cho thấy, biến động địa – chính trị đang ngày càng tác động trực tiếp đến thị trường năng lượng toàn cầu, làm gia tăng rủi ro về nguồn cung, giá cả, vận tải và chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, căng thẳng tại Trung Đông đã khiến thị trường năng lượng thế giới phản ứng mạnh, không chỉ ở giá dầu mà còn ở tâm lý thị trường, tỷ giá và chi phí tài chính. Có thời điểm giá dầu thô Brent lên tới 115,6 USD/thùng vào đầu tháng 3/2026, tăng rất mạnh so với đầu năm; đồng thời, nguy cơ gián đoạn tại các tuyến hàng hải chiến lược tiếp tục làm gia tăng lo ngại về một cú sốc kép đối với cung ứng năng lượng và chi phí logistics toàn cầu.

Đối với Việt Nam, tác động của các biến động này là rõ nét và đa chiều do nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào lưu chuyển thương mại quốc tế và vẫn còn dựa đáng kể vào nguồn năng lượng nhập khẩu. Giá nhiên liệu trong nước đã tăng mạnh trong tháng 3/2026, trong đó xăng E5 A92 tăng 26,2% và dầu diesel tăng 57,4% so với bình quân tháng trước. Sự gia tăng này không chỉ làm tăng chi phí vận tải, sản xuất và logistics, mà còn tạo áp lực lan tỏa sang nhiều nhóm hàng hóa và vật tư đầu vào. Trong bối cảnh nguồn cung trong nước mới đáp ứng được một phần nhu cầu, những bất ổn ở bên ngoài cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nhìn nhận an ninh năng lượng theo hướng chủ động hơn, linh hoạt hơn và gắn với sức chống chịu của toàn bộ nền kinh tế.

Biến động năng lượng cũng kéo theo tác động dây chuyền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các ngành sử dụng nhiều năng lượng hoặc phụ thuộc lớn vào nguyên liệu đầu vào và logistics như vận tải, công nghiệp chế biến, vật liệu xây dựng, nông nghiệp và phân bón đều chịu sức ép lớn về chi phí và khả năng duy trì ổn định sản xuất. Riêng với ngành phân bón, việc bảo đảm nguồn cung và giá cả ổn định không chỉ liên quan đến sản xuất công nghiệp mà còn gắn trực tiếp với an ninh lương thực quốc gia, bởi phân bón là vật tư đầu vào thiết yếu đối với nông nghiệp và năng suất cây trồng.

“Với các nền kinh tế như Việt Nam, tác động của khủng hoảng năng lượng càng rõ rệt. Thích ứng không chỉ là vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn là nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc trong tương lai, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội” – TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.

Xây dựng tầm nhìn dài hạn để ổn định kinh tế vĩ mô

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng toàn cầu ngày càng phức tạp, đặc biệt do bất ổn địa chính trị tại Trung Đông – khu vực cung cấp phần lớn dầu mỏ thế giới – việc ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi một cách tiếp cận chủ động, toàn diện và có tầm nhìn dài hạn.

TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng nhận định, rủi ro năng lượng không còn là kịch bản giả định mà đã trở thành hiện thực, kéo theo áp lực lớn lên lạm phát, lãi suất và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, theo TS. Lê Xuân Nghĩa, giải pháp trọng tâm trước hết là xây dựng và hoàn thiện hệ thống dự trữ năng lượng chiến lược.

Giữ vững ổn định kinh tế trong khủng hoảng năng lượng

TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng.

Trong khi Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu, việc chưa hình thành được các kho dự trữ quy mô lớn khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc giá năng lượng. Do đó, cần coi dự trữ xăng dầu và khí đốt là một trụ cột của an ninh kinh tế, tương tự như dự trữ ngoại hối hay lương thực. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn mang ý nghĩa chiến lược nhằm giảm thiểu tác động lan truyền từ biến động quốc tế.

Song song với đó, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thận trọng và linh hoạt hơn. Giá dầu tăng mạnh có thể đẩy lạm phát lên cao, khiến dư địa giảm lãi suất bị thu hẹp. Vì vậy, chính sách cần cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

Một giải pháp quan trọng khác là tái cấu trúc nguồn vốn cho nền kinh tế. Cần phát triển thị trường trái phiếu, khuyến khích người dân và các quỹ đầu tư tham gia, từ đó giảm áp lực lên hệ thống tín dụng và tạo điều kiện hạ chi phí vốn cho doanh nghiệp.

Về dài hạn, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu. Điều này bao gồm phát triển năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và xây dựng hệ sinh thái công nghiệp năng lượng bền vững. Đồng thời, cần gắn chiến lược năng lượng với chiến lược phát triển công nghiệp và đô thị, nhằm tối ưu hóa hiệu quả lan tỏa trong toàn nền kinh tế.

“Trong bối cảnh khủng hoảng, việc tận dụng cơ hội từ các lĩnh vực ít chịu tác động trực tiếp như du lịch cũng rất quan trọng. Khi các điểm nóng địa chính trị trở nên kém an toàn, Việt Nam có thể trở thành điểm đến thay thế nếu cải thiện chính sách thị thực và hạ tầng dịch vụ”, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, ổn định kinh tế trong khủng hoảng năng lượng đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách năng lượng, tiền tệ, tài khóa và đầu tư. Chỉ khi xây dựng được một nền tảng an ninh năng lượng vững chắc, nền kinh tế mới có thể duy trì tăng trưởng bền vững trong môi trường toàn cầu nhiều biến động.

Thuỷ Hà
Thích

Tin liên quan

Video