|
| Nâng cao tỉ lệ nội địa hóa giúp tự chủ nguồn nguyên liệu sản xuất |
Khơi thông các nguồn lực của nền kinh tế
Hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ lực khi tín dụng chiếm khoảng 50-55% tổng vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới 145-147% và có thể tiến sát 180% vào năm 2030 nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hiện nay. Theo ông Nguyễn Lê Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), cấu trúc hệ thống tài chính hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa thực sự phát huy vai trò cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn, khiến áp lực cung ứng vốn ngày càng dồn lên hệ thống ngân hàng.
Theo chia sẻ của ông Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, nhiều nguồn lực trong nền kinh tế vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Hiện tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam đạt khoảng 37% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư mới khoảng 31% GDP cho thấy dư địa huy động vốn trong nước còn khá lớn. Ngoài ra, các nguồn lực như kiều hối, tài chính xanh quốc tế, dòng vốn FDI, thặng dư thương mại hay nguồn lực trong dân cư như vàng và bất động sản đều có tiềm năng lớn. Đặc biệt, lượng kiều hối gửi về Việt Nam mỗi năm đạt khoảng 7-10 tỷ USD. Cùng với các nguồn lực mới như thị trường carbon, trung tâm tài chính quốc tế, tài sản số..., nếu được thiết kế phù hợp, có thể góp phần cải thiện khả năng luân chuyển dòng vốn…
Song song với huy động nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được xem là yếu tố then chốt để đạt tăng trưởng 2 con số. Theo định hướng của Chính phủ, hệ số ICOR của Việt Nam cần giảm từ mức khoảng 6,3 giai đoạn 2021-2025 xuống khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026-2030. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước. Để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Trong đó, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua phát triển khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và cải thiện hiệu quả thị trường là những yếu tố then chốt.
Kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển
Phát biểu tại lễ nhậm chức vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2031 là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước. Theo Thủ tướng, để đạt được mục tiêu này cần phát huy đồng thời nhiều động lực tăng trưởng mới. Trong đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng linh hoạt và chủ động trở nên đặc biệt quan trọng. Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công Thương phối hợp điều tiết thị trường, giảm thiểu tác động của biến động giá năng lượng và thị trường tiền tệ quốc tế đối với nền kinh tế trong nước.
Một trong những công cụ tài khóa được sử dụng là điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu nhằm đa dạng hóa nguồn cung và giảm áp lực giá trong nước. Đặc biệt, Quốc hội cũng vừa thông qua giảm thuế thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay đến hết tháng 6/2026. Quỹ Bình ổn giá xăng dầu cũng được sử dụng như “van giảm xóc” của thị trường, giúp làm mềm các cú sốc giá ngắn hạn khi giá năng lượng thế giới tăng đột biến. Song song với đó, việc tăng cường năng lực dự trữ xăng dầu quốc gia cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng ứng phó khi nguồn cung năng lượng toàn cầu biến động.
Bên cạnh chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng được điều hành linh hoạt nhằm hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn được xem là yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí sản xuất và thúc đẩy đầu tư. Cùng với đó, các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm lãi suất huy động nhằm tạo dư địa hạ chi phí vốn cho vay cho nền kinh tế, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp và người dân.


