![]() |
| Nông thôn Việt Nam nhiều tiềm năng phát triển du lịch. (Ảnh Duy Hưng) |
Đánh thức giá trị bản địa, nâng tầm sản phẩm du lịch nông thôn
Nông thôn Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển du lịch, từ cảnh quan thiên nhiên, vùng sản xuất nông nghiệp, làng nghề truyền thống đến lễ hội, ẩm thực, tri thức bản địa và các sản phẩm OCOP. Nếu được khai thác hiệu quả, những giá trị này không chỉ tạo sức hấp dẫn cho điểm đến mà còn góp phần đa dạng hóa sinh kế, nâng cao thu nhập và gia tăng giá trị nông sản địa phương.
Thực tế, nhiều địa phương đã phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và du lịch làng nghề gắn với đặc sản, sản phẩm OCOP. Nâng tầm cao hơn nữa một số cơ sở sản xuất chuyển từ bán nông sản đơn thuần sang tổ chức tham quan, trải nghiệm quy trình canh tác, thu hoạch, chế biến và thưởng thức sản phẩm tại chỗ. Với nhiều cách làm, du lịch nông thôn mở ra hướng phát triển mới cho nông thôn bằng việc kết nối sản xuất với dịch vụ, giúp du khách hiểu hơn về nguồn gốc hàng hóa và đời sống văn hóa của cộng đồng.
Sự chuyển dịch này phù hợp với Quyết định số 922/QĐ-TT ngày 2/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025. Chương trình nhấn mạnh việc khai thác lợi thế nông nghiệp, văn hóa và môi trường sinh thái để phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, gắn với xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống người dân. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các địa phương xem du lịch là hướng đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thay vì chỉ là hoạt động dịch vụ bổ trợ.
Tuy nhiên, tiềm năng phong phú song phát triển du lịch nông thôn chưa đồng nghĩa với hiệu quả khai thác tương xứng. Ở một số nơi, sản phẩm du lịch còn phân tán, quy mô nhỏ, thiếu khác biệt; hoạt động trải nghiệm đơn điệu, chất lượng dịch vụ và năng lực đón khách chưa đồng đều. Liên kết giữa người dân, hợp tác xã, làng nghề và doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế, khiến việc hình thành tour, tuyến và tiếp cận thị trường chưa hiệu quả.
Không chỉ vậy nhiều điểm đến vẫn chủ yếu tổ chức tham quan, giới thiệu quy trình sản xuất, bán một vài sản phẩm rồi kết thúc hành trình. Thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu hạn chế, trong khi khả năng quay trở lại của du khách chưa cao. Một số địa phương chú trọng đầu tư cơ sở vật chất nhưng chưa quan tâm tương xứng đến thiết kế trải nghiệm, quản trị kinh doanh và quảng bá sản phẩm.
Tất cả những điểm nghẽn này cho thấy bài phát triển du lịch nông thôn không phải chỉ là khai thác tài nguyên sẵn có còn phải biết chuyển hóa tài nguyên thành giá trị trải nghiệm. Theo đó, một vùng trồng cây ăn quả có thể hấp dẫn du khách khi biết kết hợp với hoạt động thu hoạch, chế biến và thưởng thức nông sản giúp du khách được trực tiếp trải nghiệm với từng công đoạn; Hay một làng nghề sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn du khách thông qua trải nghiệm làm nghề, tìm hiểu lịch sử và khám phá ẩm thực địa phương. Khi sản phẩm được thiết kế có chiều sâu, du khách có thêm lý do lưu trú lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và tiếp tục mua hàng sau chuyến đi.
Như vậy, mỗi địa phương cần xác định rõ giá trị khác biệt từ nghề truyền thống, phương thức canh tác, văn hóa cộng đồng và sản phẩm OCOP để xây dựng trải nghiệm phù hợp với từng nhóm khách. Doanh nghiệp lữ hành cần tham gia từ khâu khảo sát, thiết kế chương trình, lựa chọn thời lượng, mức giá đến tổ chức phân phối. Sự phối hợp của các bên sẽ giúp sản phẩm du lịch nông thôn ngày càng tiếp cận gần hơn với nhu cầu của du khách đáp ứng nhu cầu thị trường, hạn chế đầu tư theo phong trào và nâng cao khả năng cạnh tranh.
![]() |
| Mỗi địa phương xác định rõ giá trị khác biệt sản phẩm từ đó đa dạng hóa kinh tế nông thôn. |
Kết nối hệ sinh thái du lịch xanh, gia tăng giá trị kinh tế địa phương
Để du lịch nông thôn phát triển bền vững, cần chuyển từ tư duy xây dựng các điểm đến riêng lẻ sang hình thành hệ sinh thái kinh tế liên kết giữa nông nghiệp, văn hóa, làng nghề, OCOP, lưu trú, ẩm thực và thương mại. Trong đó, nông nghiệp cung cấp sản phẩm và không gian trải nghiệm; văn hóa tạo bản sắc; làng nghề và OCOP hình thành hàng hóa đặc trưng; doanh nghiệp kết nối thị trường; cộng đồng trực tiếp cung cấp dịch vụ và hưởng lợi.
Những năm qua, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và tạo nền tảng kết nối sản xuất với du lịch. Thông qua Chương trình nhiều sản phẩm của địa phương đã được biết đến nhiều hơn và nâng tầm giá trị sản phẩm cùng với đó là thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng được mở rộng. Nắm bắt tiềm năng thị trường, nhiều doanh nghiệp cũng đã lựa chọn cách tiếp cận từ việc xác định giá trị địa phương có thể chuyển hóa thành trải nghiệm, thay vì chỉ tìm kiếm sản phẩm để bán. Nhờ đó, nông sản trở thành hạt nhân kết nối văn hóa, con người, cảnh quan, dịch vụ và thương hiệu điểm đến.
Ở đó, mỗi sản phẩm địa phương không chỉ là hàng hóa mà còn có thể mở ra hành trình khám phá phía sau làm nên một sản phẩm, tìm hiểu quy trình sản xuất, thưởng thức ẩm thực và nghe câu chuyện về lịch sử địa phương. Khi được tổ chức thành chuỗi trải nghiệm, sản phẩm có thể tạo thêm doanh thu từ tham quan, hướng dẫn, ăn uống, lưu trú và mua sắm. Giá trị kinh tế vì thế không chỉ nằm ở khâu sản xuất, còn mở rộng qua nhiều dịch vụ liên quan.
Để hình thành chuỗi giá trị này, chính quyền địa phương cần giữ vai trò định hướng quy hoạch, hoàn thiện hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể hợp tác. Hợp tác xã hỗ trợ tổ chức sản xuất, chuẩn hóa chất lượng; doanh nghiệp đảm nhiệm thiết kế sản phẩm, phân phối và tiếp cận khách hàng. Đặc biệt, người dân phải được tham gia thực chất vào quá trình xây dựng, vận hành điểm đến và được hưởng lợi công bằng. Chính sách hỗ trợ cũng cần chuyển từ đầu tư dàn trải sang nâng cao năng lực quản trị, chất lượng dịch vụ và khả năng tự vận hành của cộng đồng.
Theo đại diện Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, phát triển du lịch cộng đồng cần chuyển từ khai thác tài nguyên sang nuôi dưỡng hệ sinh thái điểm đến, hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên, gìn giữ văn hóa và nâng cao chất lượng sống. Vì vậy, quy hoạch cần tính đến sức chịu tải của hệ sinh thái, năng lực quản trị cộng đồng và khả năng đáp ứng của hạ tầng. Cách tiếp cận tích hợp giữa thiên nhiên, dân cư, sinh kế, di sản sống, dịch vụ và quản trị sẽ giúp hạn chế tình trạng đầu tư công trình nhưng xem nhẹ giá trị bản địa.
Cùng với đó, du lịch xanh cần được cụ thể hóa bằng các giải pháp, quản lý rác thải, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ cảnh quan. Ứng dụng công nghệ số cũng cần được đẩy mạnh thông qua mã QR giới thiệu nguồn gốc, câu chuyện sản phẩm, quảng bá điểm đến và thương mại điện tử. Khi du khách có thể tiếp tục đặt mua nông sản, sản phẩm làng nghề sau chuyến đi, hiệu quả kinh tế sẽ không còn giới hạn trong thời gian lưu trú.
Quyết định số 922/QĐ-TT đã đặt nền tảng cho phát triển du lịch nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Để phát huy định hướng này trong giai đoạn tiếp theo, các địa phương cần chú trọng sản phẩm đặc trưng, tăng cường liên kết chuỗi, nâng cao năng lực cộng đồng và bảo đảm hài hòa giữa khai thác kinh tế với bảo tồn tài nguyên. Hiệu quả phát triển không chỉ đo bằng số điểm đến hay lượt khách, mà còn ở mức chi tiêu, thời gian lưu trú, khả năng tiêu thụ sản phẩm địa phương và thu nhập của người dân.
Du lịch nông thôn chỉ có thể chuyển lợi thế bản địa thành giá trị kinh tế bền vững khi tài nguyên được phát triển thành trải nghiệm có chất lượng, sản phẩm có thị trường và sinh kế có khả năng duy trì lâu dài. Từ nền tảng chính sách đến thực tiễn triển khai, việc xây dựng hệ sinh thái du lịch xanh, kết nối sản xuất với dịch vụ và phát huy vai trò chủ thể của người dân sẽ quyết định khả năng nâng cao giá trị kinh tế nông thôn, gìn giữ bản sắc và tạo động lực phát triển bền vững.




