|
| Toàn cảnh buổi làm việc của Thủ tướng với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng. |
Không coi mục tiêu tăng trưởng tín dụng là “trần cứng”
Thông tin đáng chú ý nhất tuần qua là Thông báo số 428/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc ngày 13/8 với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng.
Thủ tướng yêu cầu chính sách tiền tệ tiếp tục kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống nhưng đồng thời phải hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Các công cụ lãi suất, tỷ giá, cung tiền, thanh khoản và tín dụng phải được điều hành theo những kịch bản cụ thể, thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.
Đáng chú ý, với tăng trưởng tín dụng, Thủ tướng yêu cầu điều hành bám sát mục tiêu nhưng không coi đây là “trần cứng” trong mọi thời điểm. Dòng vốn cần đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích với chi phí hợp lý; tập trung vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, hạ tầng thiết yếu và các động lực tăng trưởng.
Về lãi suất, Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu tiếp tục cung ứng thanh khoản phù hợp, chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất cho vay. Chính sách tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại cũng được yêu cầu phối hợp linh hoạt nhằm hỗ trợ thanh khoản.
Cũng trong tuần, hàng loạt ngân hàng tiếp tục công bố các gói tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp. Agribank triển khai quy mô 70.000 tỷ đồng với mức giảm 1-2%/năm; BIDV, Vietcombank và VietinBank mỗi ngân hàng khoảng 50.000 tỷ đồng. Nam A Bank có các gói tổng hạn mức 25.000 tỷ đồng; MSB 3.000 tỷ đồng; BVBank 2.500 tỷ đồng; LPBank 2.000 tỷ đồng. KienlongBank giảm lãi suất tới 2,5%/năm tùy nhóm khách hàng, trong khi NCB giảm 0,5%/năm đối với các gói vay doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Tuy nhiên, yêu cầu được nhấn mạnh không chỉ là mức lãi suất công bố mà là chi phí vốn thực tế doanh nghiệp phải trả và khả năng tiếp cận được khoản vay.
Trước đó, tại cuộc làm việc về tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng vào ngày 10/8/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu đổi mới phương thức cho vay theo ngành, chuỗi giá trị và dòng tiền; khai thác dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, tài khoản thanh toán và lịch sử tín dụng để thẩm định khách hàng. Tài sản bảo đảm vẫn cần thiết nhưng không nên trở thành điều kiện duy nhất quyết định khả năng vay vốn.
Nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng
Bên cạnh yêu cầu mở rộng khả năng tiếp cận vốn, chất lượng tín dụng trở thành vấn đề cần chú ý hơn trong nửa cuối năm.
Số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính của 28 ngân hàng cho thấy dư nợ cho vay khách hàng đến cuối tháng 6 đạt gần 17,5 triệu tỷ đồng, tăng 8,4% so với cuối năm 2025.
Tuy nhiên, theo SSI Research, nợ xấu tại nhóm ngân hàng được theo dõi tăng 21,4% từ đầu năm, nhanh hơn đáng kể tốc độ tăng tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,88% trong quý I lên 1,97% trong quý II, trong khi nợ nhóm 2 tăng từ 1,30% lên 1,45%.
Đi cùng với đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành giảm từ 95% trong quý II/2025 xuống 86% trong quý I/2026 và khoảng 83% trong quý II.
Mức độ phân hóa giữa các ngân hàng khá lớn. Vietcombank duy trì tỷ lệ nợ xấu khoảng 0,61% và tỷ lệ bao phủ khoảng 279%; VietinBank có tỷ lệ bao phủ 134%. Trong khi đó, một số ngân hàng có tỷ lệ bao phủ chỉ quanh hoặc dưới 60%.
Áp lực chất lượng tài sản cũng đang tác động đến triển vọng cổ phiếu ngân hàng. Theo SSI Research, 13 ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu đạt tổng lợi nhuận trước thuế 95.700 tỷ đồng trong quý II, tăng 27,6% so với cùng kỳ; nhưng tỷ lệ nợ xấu và nợ nhóm 2 cùng tăng khiến triển vọng từng ngân hàng ngày càng phân hóa.
Những ngân hàng có chất lượng tài sản tốt, nguồn vốn chi phí thấp và bộ đệm dự phòng cao đang có lợi thế hơn, trong khi nhóm tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nợ xấu cao sẽ chịu áp lực lớn hơn về dự phòng trong các quý tới.
![]() |
| Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tại một số ngân hàng. Nguồn: VDSC |
Tiền gửi lập kỷ lục nhưng áp lực nguồn vốn chưa giảm
Theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi dân cư đạt khoảng 11,069 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025 và lần đầu vượt 11 triệu tỷ đồng. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt hơn 6,37 triệu tỷ đồng, đưa tổng tiền gửi của hai khu vực lên khoảng 17,44 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, mức tăng khoảng 733 nghìn tỷ đồng của số dư tiền gửi dân cư trong nửa đầu năm không đồng nghĩa toàn bộ số tiền này là dòng tiền mới được người dân đưa vào ngân hàng. Đây là số dư tại một thời điểm, chịu tác động của tiền gửi mới, tiền rút ra, lãi nhập gốc và các biến động khác. Khi quy mô tiền gửi đã vượt 10 triệu tỷ đồng, riêng phần lãi phát sinh trên lượng tiền gửi hiện hữu cũng có thể làm số dư tăng đáng kể.
Điểm đáng chú ý hơn nằm ở cơ cấu nguồn vốn. Theo số liệu từ báo cáo tài chính của 28 ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm từ 21,87% cuối năm 2025 xuống 20,43% cuối quý II/2026; phần lớn ngân hàng trong ghi nhận CASA giảm. Trong khi CASA là nguồn vốn có chi phí thấp, các ngân hàng lại phải tăng lãi suất huy động ở nhiều kỳ hạn để cạnh tranh nguồn tiền gửi có kỳ hạn.
Vì vậy, tiền gửi dân cư vượt 11 triệu tỷ đồng chưa đồng nghĩa nguồn vốn của hệ thống ngân hàng trở nên dồi dào và rẻ hơn. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, bài toán của các ngân hàng không chỉ là thu hút thêm tiền gửi mà còn là cân đối chi phí vốn, kỳ hạn nguồn vốn và khả năng chuyển hóa nguồn tiền huy động thành tín dụng phục vụ tăng trưởng.
![]() |
| Nguồn: Ngân hàng Nhà nước |
Hơn 15 tỷ giao dịch không tiền mặt trong 6 tháng
Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, trong 6 tháng đầu năm 2026, thanh toán không dùng tiền mặt đạt hơn 15 tỷ giao dịch, tổng giá trị trên 190 triệu tỷ đồng, tăng 34,28% về số lượng và 12,24% về giá trị. Giá trị giao dịch bình quân khoảng 1,05 triệu tỷ đồng, tương đương 40 tỷ USD mỗi ngày.
Nhiều ngân hàng hiện có trên 95% giao dịch được thực hiện qua kênh số. Đến hết năm 2025, 89% người trưởng thành tại Việt Nam có tài khoản thanh toán; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt tương đương khoảng 28 lần GDP.
Song song với mở rộng quy mô, các biện pháp phòng chống gian lận được tăng cường. Toàn ngành đã đối chiếu sinh trắc học thành công khoảng 168 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và 2,8 triệu hồ sơ tổ chức. Hệ thống SIMO đã cảnh báo khoảng 4,9 triệu lượt khách hàng, trong đó khoảng 1,6 triệu lượt tạm dừng giao dịch nghi ngờ, bảo vệ khoảng 5.500 tỷ đồng.
AI cũng đang được ứng dụng sâu hơn vào cá nhân hóa sản phẩm, chấm điểm tín dụng, quản lý dòng tiền, chăm sóc khách hàng và phát hiện gian lận. Tuy nhiên, ngành Ngân hàng đồng thời đặt trọng tâm vào chất lượng dữ liệu, an toàn thông tin và cơ chế kiểm soát AI, trong đó con người vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng đối với các quyết định quan trọng.
Tỷ giá hạ nhiệt sau chuỗi tăng
Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định trở lại sau giai đoạn tăng từ nửa cuối tháng 7. Ngày 15/8, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ở mức 25.561 VND/USD, thấp hơn mức cao kỷ lục 25.566 VND/USD ghi nhận trước đó. So với đầu năm, tỷ giá trung tâm hiện vẫn cao hơn khoảng 1,75-1,8%.
Theo MBS Research, trong tháng 7, tỷ giá liên ngân hàng tương đối ổn định, chốt tháng ở 26.293 VND/USD, chỉ tăng 0,1% so với đầu năm. Đáng chú ý, tỷ giá trên thị trường tự do giảm 1,7% trong tháng, về 26.265 VND/USD, qua đó chênh lệch giữa tỷ giá tự do và liên ngân hàng từ 1,5% cuối tháng 6 thu hẹp xuống -0,1%.
MBS Research dự báo tỷ giá USD/VND cuối năm có thể dao động trong khoảng 26.800-27.000 VND/USD, tương ứng tăng khoảng 2-2,8% so với đầu năm. Các yếu tố hỗ trợ VND gồm mặt bằng lãi suất trong nước, dòng vốn FDI và khả năng cán cân thương mại cải thiện khi bước vào mùa cao điểm xuất khẩu.
Vàng SJC đứng yên, vàng thế giới tăng tuần thứ hai
![]() |
| Diễn biến giá vàng nhẫn Kim Gia Bảo của Bảo Tín Mạnh Hải trong 1 tuần qua. |
Thị trường vàng trong nước tuần qua ổn định hơn đáng kể so với những tuần biến động mạnh trước đó. Tính đến ngày 16/8/2026, vàng miếng SJC tại các thương hiệu lớn phổ biến ở mức 141 - 144 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), không thay đổi so với cuối tuần trước. Vàng nhẫn SJC cũng giữ ở 140,5 - 143,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Tuy nhiên, giá vàng nhẫn giữa các thương hiệu có sự phân hóa. PNJ tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều mua, trong khi DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải cùng giảm 700.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước.
Trái với sự ổn định trong nước, vàng thế giới tiếp tục tăng. Giá vàng giao ngay đóng cửa tuần quanh 4.376-4.377 USD/ounce, tăng khoảng 0,8% trong tuần, sau khi đã tăng 7,3% ở tuần trước.
Như vậy, chỉ trong 2 tuần gần đây, giá vàng quốc tế đã ghi nhận một nhịp tăng đáng kể, trong khi vàng SJC tuần này gần như đứng yên. Động lực chính đến từ đồng USD suy yếu và kỳ vọng lãi suất của Mỹ thay đổi sau các số liệu kinh tế.
Trong tuần tới, thị trường sẽ tiếp tục theo dõi biên bản cuộc họp FOMC ngày 28-29/7, cùng các số liệu sản xuất, thị trường nhà ở, lao động và PMI của Mỹ. Đây sẽ là những dữ liệu có thể tiếp tục làm thay đổi kỳ vọng về hướng đi của lãi suất và tác động trực tiếp tới giá vàng.






