![]() |
| Việc đề xuất chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân và hộ kinh doanh trong năm 2026 là rất kịp thời về thời điểm và có ý nghĩa rất lớn về hiệu quả. |
Hỗ trợ đúng thời điểm có giá trị tương đương quy mô hỗ trợ
Phóng viên: Tại Dự án Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân có kinh doanh và doanh nghiệp vừa được Chính phủ trình Quốc hội, Bộ Tài chính tham mưu Chính phủ đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập phải nộp trong hai năm 2026-2027 đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu đến 10 tỷ đồng. Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa cũng như tác động của đề xuất này?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng đây là một đề xuất kịp thời và đáng chú ý cả về quy mô hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ, đặc biệt là thời điểm thực hiện. Điểm quan trọng trước hết là Chính phủ không muốn chờ đến kỳ họp Quốc hội tháng 10 mới xem xét mà yêu cầu khẩn trương báo cáo ngay tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất trong tháng 8/2026, với mục tiêu để các giải pháp hỗ trợ có thể phát huy tác dụng ngay trong năm nay. Nghị quyết 216/NQ-CP ngày 6/8/2026 của Chính phủ đã nêu rõ yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, báo cáo Quốc hội ngay tại kỳ họp tháng 8, xem xét chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân và hộ kinh doanh trong năm 2026. Như vậy, đây là một đề xuất chính sách rất kịp thời về thời điểm và có ý nghĩa rất lớn về hiệu quả, góp phần tháo gỡ khó khăn, ổn định sản xuất, kinh doanh cho hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp.
Trong chính sách kinh tế, thời điểm quan trọng không kém quy mô. Một đồng hỗ trợ đến đúng lúc doanh nghiệp thiếu vốn lưu động, thị trường còn nhiều bất định có thể tạo hiệu ứng lớn hơn một khoản hỗ trợ cao hơn nhưng đến khi khó khăn đã qua hoặc doanh nghiệp đã rời thị trường.
Bức tranh doanh nghiệp hiện nay cho thấy điều đó. Theo Cục Thống kê, trong 7 tháng năm 2026, cả nước có khoảng 187,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5% so với cùng kỳ; nhưng đồng thời có tới 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bình quân khoảng 22,2 nghìn doanh nghiệp mỗi tháng. Riêng số doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 125,9 nghìn, tăng 16,9%.
Điều đó cho thấy sức sống của khu vực doanh nghiệp đang khá mạnh, nhưng sức ép thanh lọc cũng rất lớn. Vì vậy, giảm nghĩa vụ thuế đúng thời điểm có thể giúp một bộ phận doanh nghiệp giữ được dòng tiền, duy trì việc làm và tiếp tục đầu tư thay vì phải thu hẹp hoạt động.
![]() |
PGS.TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam. |
Phóng viên: Theo ông, vì sao việc tập trung hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh có doanh thu đến 10 tỷ đồng lại có ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong thời điểm này?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Đây là khu vực rất đông đảo nhưng khả năng chống chịu tài chính thường mỏng hơn doanh nghiệp lớn. Việt Nam hiện có hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động. Đây không chỉ là khu vực tạo việc làm, thu nhập và sinh kế rất lớn mà còn là nguồn quan trọng để phát triển lực lượng doanh nghiệp trong tương lai. Bộ Tài chính từng xác định khu vực hộ kinh doanh là một trong những nguồn lực quan trọng để tiến tới mục tiêu phát triển mạnh số lượng doanh nghiệp.
Đối với một doanh nghiệp lớn, 100 triệu hay 200 triệu đồng tiền thuế được giữ lại có thể không phải con số đáng kể. Nhưng với một cửa hàng, cơ sở sản xuất nhỏ hay doanh nghiệp siêu nhỏ, khoản tiền đó có thể tương đương một tháng tiền lương, tiền thuê mặt bằng, một khoản nguyên liệu hoặc một phần vốn đầu tư máy móc. Vì thế, hỗ trợ nhóm doanh thu đến 10 tỷ đồng có tính nhắm trúng đối tượng tương đối rõ. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với tài khóa có trọng tâm: Nhà nước không giảm thuế đại trà cho tất cả doanh nghiệp, mà tập trung nguồn lực vào nhóm có khả năng chịu tổn thương cao hơn và có xu hướng đưa phần tiền được giữ lại quay trở lại sản xuất, kinh doanh nhanh hơn.
Giảm 30% số thuế phải nộp, không phải giảm 30 điểm phần trăm thuế suất
Phóng viên: Có ý kiến đang hiểu rằng chính sách này là “giảm thuế suất 30%”. Cách hiểu như vậy có chính xác không, thưa ông?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Cần nói thật rõ để tránh hiểu nhầm: đề xuất là giảm 30% số thuế phải nộp, không phải giảm 30 điểm phần trăm thuế suất. Ví dụ, nếu theo quy định hiện hành một doanh nghiệp sau khi xác định thu nhập tính thuế, thuế suất và các khoản ưu đãi có số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là 100 triệu đồng, thì nếu thuộc đối tượng của chính sách này, số thuế được giảm là 30 triệu đồng và doanh nghiệp còn phải nộp 70 triệu đồng.
Hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã áp dụng thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng và 17% đối với doanh nghiệp có doanh thu trên 3 tỷ đến không quá 50 tỷ đồng, bên cạnh mức thuế suất phổ thông 20%. Như vậy, đề xuất mới là một lớp hỗ trợ bổ sung trên nghĩa vụ thuế đã được xác định theo pháp luật hiện hành. Cách thiết kế này khá hợp lý bởi nó giúp hỗ trợ trực tiếp người thực sự phát sinh thu nhập và nghĩa vụ thuế, đồng thời ít làm xáo trộn cấu trúc thuế suất đang áp dụng.
Phóng viên: Bên cạnh số tiền thuế được giảm trực tiếp, theo ông chính sách còn có thể tạo ra những tác động tích cực nào?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng có ít nhất ba tác động.
Thứ nhất là tăng dòng tiền và khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Trong điều kiện doanh nghiệp nhỏ thường khó tiếp cận vốn với chi phí thấp, khoản thuế được giữ lại chính là một hình thức bổ sung vốn lưu động mà doanh nghiệp không phải trả lãi.
Thứ hai là hỗ trợ tổng cầu và duy trì việc làm. Tiền thuế được giảm không biến mất khỏi nền kinh tế. Nó có thể được dùng để nhập nguyên liệu, trả lương, đầu tư máy móc, thuê dịch vụ hoặc mở rộng kinh doanh. Nghĩa là một phần khoản giảm thu ngân sách ban đầu sẽ quay trở lại nền kinh tế, tạo doanh thu và nguồn thu thuế ở những khâu khác.
Thứ ba, và theo tôi rất quan trọng, là tạo thêm động lực cho hộ kinh doanh chính thức hóa hoạt động và chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Từ năm 2026, Việt Nam đang thay đổi khá mạnh phương thức quản lý thuế đối với hộ kinh doanh. Hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu đến 1 tỷ đồng/năm hiện không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN; đồng thời phương thức quản lý đang chuyển mạnh theo hướng kê khai, hóa đơn điện tử và quản lý trên nền tảng dữ liệu.
Nếu quá trình chuyển đổi chỉ đi kèm nghĩa vụ mới mà không có hỗ trợ, một bộ phận hộ kinh doanh sẽ có tâm lý e ngại. Ngược lại, nếu Nhà nước vừa minh bạch hóa quản lý, vừa giảm thuế và giảm chi phí tuân thủ thì thông điệp chính sách sẽ rất khác: minh bạch hơn nhưng cũng thuận lợi hơn. Giảm thu trước mắt để mở rộng nguồn thu lâu dài.
Phóng viên: Xét từ góc độ cân đối ngân sách, ông nhìn nhận vấn đề này ra sao?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Đây là vấn đề phải tính toán, nhưng không nên chỉ nhìn giảm thuế như một khoản “mất thu”. Theo tính toán của Bộ Tài chính, nếu đề xuất được thông qua, tổng số giảm thu ngân sách trong hai năm khoảng 6.701 tỷ đồng. Trong đó, năm 2026 giảm khoảng 3.191 tỷ đồng, gồm khoảng 929 tỷ đồng thuế TNCN của hộ, cá nhân kinh doanh và 2.262 tỷ đồng thuế TNDN; năm 2027 dự kiến giảm khoảng 3.510 tỷ đồng. Trong khi đó, thu ngân sách nhà nước 7 tháng năm 2026 ước đạt khoảng 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán, tăng 16% so với cùng kỳ; riêng thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt hơn 438,3 nghìn tỷ đồng, bằng 87% dự toán và tăng 46,6%. Đặt hai con số cạnh nhau cho thấy mức giảm thu dự kiến là có thể cân nhắc trong khả năng tài khóa, đặc biệt nếu chính sách tạo ra tăng trưởng bổ sung.
Quan điểm của tôi là không nên đặt câu hỏi đơn giản: “Giảm thuế thì ngân sách mất bao nhiêu?” mà phải đặt câu hỏi rộng hơn: “Một đồng ngân sách chấp nhận giảm thu hôm nay tạo được bao nhiêu đồng doanh thu, đầu tư, việc làm và nguồn thu trong tương lai?”. Đó chính là tư duy nuôi dưỡng nguồn thu.
Nếu doanh nghiệp tồn tại, mở rộng quy mô, tuyển thêm lao động thì Nhà nước có thể thu thêm thuế GTGT, thuế thu nhập, bảo hiểm xã hội và nhiều khoản thu khác. Ngược lại, nếu doanh nghiệp đóng cửa, nguồn thu không chỉ giảm trong một năm mà có thể mất lâu dài. Vì vậy, một chính sách tài khóa tốt không nhất thiết là chính sách thu được nhiều nhất trong ngắn hạn, mà là chính sách tạo được cơ sở thu bền vững nhất trong dài hạn.
![]() |
| Từ năm 2026, Việt Nam đang thay đổi khá mạnh phương thức quản lý thuế đối với hộ kinh doanh theo hướng minh bạch hơn nhưng cũng thuận lợi hơn. |
Không chỉ giảm thuế, cần giảm cả “chi phí tuân thủ”
Phóng viên: Cùng với kiến nghị giảm thuế, Chính phủ đồng thời đề xuất nâng ngưỡng doanh thu lựa chọn phương pháp tính thuế đơn giản từ 3 tỷ lên 10 tỷ đồng. Ông đánh giá thế nào về hướng điều chỉnh này?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng và tác động lâu dài không kém việc giảm 30% thuế. Bởi đối với doanh nghiệp rất nhỏ và hộ kinh doanh, gánh nặng không chỉ nằm ở số tiền thuế phải nộp, mà còn nằm ở chi phí để thực hiện nghĩa vụ thuế với các yếu tố cần phải tính về kế toán, hóa đơn, phần mềm, nhân sự, thời gian làm thủ tục và rủi ro sai sót. Chính phủ đang đề xuất nâng mức doanh thu để hộ, cá nhân kinh doanh được lựa chọn phương pháp tính thuế đơn giản từ 3 tỷ lên 10 tỷ đồng/năm và áp dụng mức tương ứng đối với doanh nghiệp. Mục tiêu là giảm thời gian, chi phí tuân thủ và tạo sự đồng bộ giữa hộ kinh doanh với doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Đây là hướng đi đúng với nguyên tắc quản lý thuế hiện đại: đối tượng càng nhỏ thì phương thức tuân thủ càng cần đơn giản; đối tượng càng lớn và phức tạp thì yêu cầu kế toán, kiểm toán, công khai càng cao. Không nên bắt một cửa hàng doanh thu vài tỷ đồng phải gánh một cơ chế tuân thủ gần giống doanh nghiệp hàng trăm tỷ đồng. Chi phí quản lý có thể trở thành một dạng “thuế vô hình”.
Cần tránh “bước nhảy” về nghĩa vụ thuế tại ngưỡng 10 tỷ đồng
Phóng viên: Theo ông, cần lưu ý tập trung những vấn đề gì để đề xuất chính sách được hoàn thiện, ban hành sớm đi vào cuộc sống và đạt được mục tiêu đặt ra, tránh phát sinh những bất cập?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng cần đặc biệt chú ý 4 vấn đề.
Thứ nhất, phải quy định thật rõ cách xác định doanh thu 10 tỷ đồng. Cần làm rõ doanh thu của năm nào, xử lý trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động không đủ 12 tháng, sáp nhập, chia tách hoặc có nhiều địa điểm kinh doanh như thế nào.
Thứ hai, phải ngăn hiện tượng chia nhỏ hoạt động kinh doanh để được hưởng ưu đãi. Khi một ngưỡng doanh thu tạo ra chênh lệch đáng kể về nghĩa vụ thuế, sẽ xuất hiện động cơ chia doanh nghiệp, chia hộ hoặc phân tán doanh thu. Vì vậy cần kết nối dữ liệu hóa đơn điện tử, tài khoản, mã số thuế và các bên có quan hệ liên kết để bảo đảm đúng đối tượng.
Thứ ba, cần xử lý hài hòa các chính sách ưu đãi đang tồn tại. Hiện doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu đã có những chính sách hỗ trợ thuế theo Nghị quyết 198/2025/QH15 và Nghị định 20/2026/NĐ-CP. Vì vậy cần quy định thứ tự áp dụng, tránh vừa trùng lặp ưu đãi vừa tạo cách hiểu khác nhau giữa người nộp thuế và cơ quan quản lý.
Thứ tư, thủ tục phải thật sự tự động và đơn giản. Nếu để được giảm 30% thuế mà doanh nghiệp phải chuẩn bị thêm nhiều giấy tờ, xin xác nhận hoặc đi qua nhiều tầng thủ tục thì một phần lợi ích của chính sách sẽ bị triệt tiêu.
Theo tôi, cơ quan thuế nên tận dụng dữ liệu quản lý hiện có để tự động xác định đối tượng đủ điều kiện, người nộp thuế chỉ cần khai đúng doanh thu và nghĩa vụ thuế. Một chính sách hỗ trợ tốt phải đạt cả hai yêu cầu: dễ hưởng đối với người tuân thủ và khó lợi dụng đối với người gian lận.
Ngoài ra, xét về tác động lâu dài, tôi cho rằng để tạo sức bật cho doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ vượt lên và phát triển mạnh, thì cùng với giảm thuế, cần đặt trong gói giải pháp tổng thể để chính sách phát huy tối đa hiệu quả hỗ trợ, bởi thuế rất quan trọng nhưng không phải chi phí duy nhất của doanh nghiệp.
Theo đó, để chính sách này tạo ra hiệu quả tối ưu, cần đặt trong một gói giải pháp gồm thuế – vốn – thủ tục – thị trường – chuyển đổi số. Doanh nghiệp được giảm thuế nhưng không vay được vốn thì vẫn khó đầu tư. Có vốn mà thủ tục đất đai, đầu tư, xây dựng kéo dài thì vốn vẫn bị “chôn”. Sản xuất được hàng nhưng sức mua yếu, không tiếp cận được thị trường thì doanh nghiệp vẫn khó phát triển. Vì vậy, cùng với giảm thuế cần tiếp tục giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, mở rộng tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ, hỗ trợ kế toán và hóa đơn điện tử, đào tạo quản trị và tạo điều kiện cho hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp khi đủ khả năng.
Bảy tháng năm 2026, kinh tế tiếp tục duy trì đà tích cực; CPI bình quân tăng 4,39%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,1%, sản xuất công nghiệp tăng 11,4%. Tuy nhiên, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn còn rất lớn. Điều đó cho thấy chính sách hỗ trợ cần vừa quyết liệt vừa có trọng tâm.
Có thể thấy thông điệp cốt lõi của chính sách là: Nhà nước chấp nhận giảm một phần nguồn thu trước mắt để tăng sức khỏe của khu vực sản xuất, kinh doanh và nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài. Điều đáng ghi nhận là tư duy chính sách đang chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có mục tiêu; từ chỉ quan tâm doanh nghiệp phải nộp bao nhiêu thuế sang quan tâm doanh nghiệp còn bao nhiêu nguồn lực để tái đầu tư.
Nếu Quốc hội thông qua và chính sách được triển khai ngay, minh bạch, ít thủ tục, đúng đối tượng thì 30% số thuế được giảm không chỉ là khoản tiền nằm lại trong tài khoản doanh nghiệp. Nó có thể trở thành vốn lưu động, tiền lương, máy móc, công nghệ, đơn hàng và việc làm mới. Và xét về tổng thể, nền tài chính bền vững phải dựa trên một khu vực doanh nghiệp ngày càng đông hơn, khỏe hơn, minh bạch hơn và có khả năng đóng góp ngày càng lớn hơn cho ngân sách. Đó mới chính là bản chất của “khoan sức doanh nghiệp để nuôi dưỡng nguồn thu”.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!





