Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Dự kiến 4 nhóm điều chỉnh nhằm đảm bảo đồng đều, công bằng trong tuyển sinh

Bộ GD&ĐT đề xuất 4 nhóm điều chỉnh, tinh thần xuyên suốt là tuyển sinh đi cùng chuẩn chất lượng, dữ liệu kiểm chứng được, trách nhiệm giải trình

Đề xuất năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo; xét tuyển thẳng, cử tuyển không tính vào giới hạn này.

Đề xuất năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo; xét tuyển thẳng, cử tuyển không tính vào giới hạn này.

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra yêu cầu đổi mới tuyển sinh đại học theo hướng đánh giá đúng năng lực người học, bảo đảm kiểm soát nhất chuẩn đầu vào các ngành đào tạo, cơ sở đào tạo và kiểm soát chặt chất chất lượng đầu ra.

Triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về hoàn thiện phương án tổng thể đổi mới thi, kiểm tra và tuyển sinh theo hướng thực chất, gọn nhẹ, giảm chi phí, Bộ GD&ĐT xây dựng dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều các thông tư của Bộ GD&ĐT ban hành quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển sinh và đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục mầm non, đại học và sau đại học.

Dự thảo được xây dựng nhằm mục tiêu đơn giản hóa và nâng chất lượng qua đồng bộ hóa phương thức thức xét tuyển. Các điều chỉnh trong dự thảo được đề xuất không nhằm thu hẹp cơ hội của thí sinh hoặc làm giảm quyền tự chủ của cơ sở đào tạo.

Mục tiêu là đưa các thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành, một chương trình về cùng chuẩn đánh giá; giảm thủ tục, giảm chi phí, tăng khả năng kiểm chứng và bảo đảm công bằng.

Tuyển sinh phải đi cùng chuẩn chất lượng, dữ liệu kiểm chứng được và trách nhiệm giải trình

Trong giai đoạn 2022-2026, các điều chỉnh về tuyển sinh như bỏ xét tuyển sớm, quy đổi tương đương, giới hạn số phương thức, quy định ngưỡng đầu vào và mức điểm cộng tối đa đã tạo chuyển biến tích cực.

Đặc biệt, với các kỳ thi có bảng quy đổi chính thức, khoảng cách điểm với kênh thi tốt nghiệp THPT đã giảm từ 2,6 xuống 1,2 điểm. Tuy nhiên, sự tương đương chưa đồng đều, thống kê cho thấy trên 40% số tổng số chương trình đào tạo sử dụng từ hai phương thức vẫn có biên độ điểm từ 3 điểm trở lên.

Vì vậy, dự thảo tập trung vào bốn nhóm điều chỉnh: giảm và chuẩn hóa phương thức xét tuyển; không sử dụng điểm cộng ngoài điểm ưu tiên theo chính sách; xác định rõ nguồn tuyển và ngưỡng đầu vào; hoàn thiện điều kiện dự tuyển liên thông từ trung học nghề, trung cấp, cao đẳng lên đại học. Dự thảo đồng thời yêu cầu chuẩn hóa độ lệch giữa các tổ hợp, tăng khai thác dữ liệu đã có và không yêu cầu thí sinh nộp lại giấy tờ, chứng chỉ có trên hệ thống.

Tinh thần xuyên suốt là tuyển sinh phải đi cùng chuẩn chất lượng, dữ liệu kiểm chứng được và trách nhiệm giải trình. Thí sinh được giảm gánh nặng theo dõi quá nhiều cách xét tuyển, nhưng vẫn được sử dụng các kết quả học tập, thi và chứng chỉ phù hợp theo quy định của từng phương thức.

Từ năm 2028 áp dụng 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo

Theo nội dung dự thảo, năm 2027 áp dụng 3 phương thức và từ năm 2028 giảm xuống 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo; xét tuyển thẳng và cử tuyển không tính vào giới hạn này.

Ở cấp cơ sở đào tạo, dự thảo vẫn quy định sử dụng tối đa 5 phương thức. Đây là lộ trình để mỗi ngành lựa chọn cách đánh giá phù hợp nhất, không phải chủ trương bắt mọi trường, mọi ngành trên cả nước cùng sử dụng một kết quả duy nhất.

Từ năm 2022-2026, chỉ 36,4% tổng số lượt chương trình đào tạo có căn cứ đối chiếu chính thức; điểm học bạ trong cùng mã ngành cao hơn điểm thi tốt nghiệp THPT khá xa; trên 2.000 chương trình đào tạo tuyển sinh có chênh lệch giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên. Khi các thang đo chưa thực sự tương đương, việc chia một ngành thành nhiều cửa xét tuyển có thể làm thí sinh cùng năng lực được đối xử khác nhau.

Giảm phương thức là để mở rộng cơ hội bình đẳng, không phải giảm cơ hội tiếp cận. Mỗi phương thức phải bảo đảm mọi thí sinh đủ điều kiện đều có thể tham gia, công bố rõ tiêu chí và sử dụng một thang điểm chung.

Cơ sở đào tạo có trách nhiệm lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào của chương trình; kết quả thi riêng, học bạ hoặc chứng chỉ vẫn có thể được sử dụng khi được cấu trúc minh bạch trong phương thức đã công bố.

thpt.jpg

Thí sinh thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Hiếu Nguyễn.

Đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định

Dự thảo không bãi bỏ điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách và không ảnh hưởng đến xét tuyển thẳng theo Quy chế.

Dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.

Trên thực tế điểm cộng có thể tạo bất bình đẳng. Thứ nhất, cơ hội tiếp cận chứng chỉ, kỳ thi hoặc hoạt động được cộng điểm khác nhau theo điều kiện kinh tế, địa bàn và khả năng chi trả. Thứ hai, cùng một loại chứng chỉ nhưng mức quy đổi, mức cộng và tổ hợp áp dụng khác nhau giữa các trường. Thứ ba, một năng lực có thể được ghi nhận hai lần - vừa là thành phần điểm xét tuyển, vừa được cộng thêm - làm sai lệch thứ tự thí sinh. Thứ tư, ở nhóm điểm cao, chỉ một phần điểm cộng nhỏ cũng có thể thay đổi kết quả trúng tuyển, dù chưa chứng minh được mức điểm đó phản ánh tốt hơn khả năng học tập của chương trình.

Cách xử lý phù hợp hơn là đánh giá đúng năng lực, đúng chỗ. Thí sinh có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi vào môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai, hoặc dùng để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ. Khi đó, chứng chỉ được sử dụng như một minh chứng năng lực có liên quan trực tiếp, thay vì trở thành một khoản điểm cộng ngoài thang đo. Nguyên tắc là một năng lực được ghi nhận một lần, theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh.

Gắn mở rộng quy mô với trách nhiệm hoàn thành đề án và chuẩn chất lượng

Đối với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, dự thảo chuyển trọng tâm từ một trần kỹ thuật cứng sang nguyên tắc số lượng tuyển sinh không vượt quá năng lực đào tạo thực tế của cơ sở. Năng lực này phải được chứng minh bằng đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn, chương trình, cơ sở vật chất, hoạt động nghiên cứu, bảo đảm chất lượng và kết quả đào tạo.

Đối với cơ sở giáo dục đại học trọng điểm hoặc cơ sở đang thực hiện đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự thảo quy định cho phép cơ sở giáo dục đại học chủ động xây dựng lộ trình đến năm 2030 để người học ở sau đại học đạt tối thiểu 20% tổng số người học. Quy định nhằm phát huy năng lực của các cơ sở có sứ mạng nghiên cứu và đào tạo nhân lực trình độ cao, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, đồng thời gắn mở rộng quy mô với trách nhiệm hoàn thành đề án và chuẩn chất lượng.

Đánh giá tác động, tiếp thu ý kiến trước khi ban hành

Dự thảo đưa ra danh mục mã thống nhất để cùng một bản chất xét tuyển được gọi và báo cáo chuẩn hóa dữ liệu. Các kỳ thi riêng được dành các mã khai báo từ 402 đến 489, tương tự với mã sử dụng phương thức kết hợp khai báo mã từ 500 đến 599, các phương thức khác cũng vậy. Dự thảo không liệt kê tên từng kỳ thi riêng của từng cơ sở đào tạo. Việc chuẩn hóa mã nhằm công khai cấu phần, kiểm tra dữ liệu và giúp thí sinh dễ hiểu, dễ so sánh và đây là cách chuẩn hóa trong hệ thống quản trị dữ liệu.

Dự thảo đang trong quá trình lấy ý kiến; Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục đánh giá tác động, lắng nghe thí sinh, cơ sở đào tạo và chuyên gia trước khi ban hành.

Tin liên quan