![]() |
| 10 tháng năm 2026, Việt Nam đón hơn 19,5 triệu lượt khách quốc tế |
Mở rộng thị trường, gia tăng đóng góp cho nền kinh tế
Theo Cục Thống kê, tháng 10 năm 2026, Việt Nam đón 1,85 triệu lượt khách quốc tế, tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, lượng khách quốc tế đạt 19,5 triệu lượt, tăng 13,8%. Kết quả này cho thấy sức hấp dẫn của du lịch Việt Nam tiếp tục được duy trì, đồng thời tạo thêm động lực cho các ngành dịch vụ, thương mại và tiêu dùng.
Theo Cục Thống kê, đà tăng trưởng ngành du lịch được hỗ trợ bởi môi trường chính trị, an ninh, an toàn và trật tự xã hội ổn định; chính sách thị thực thuận lợi; hoạt động xúc tiến, quảng bá được tăng cường. Cùng với đó, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, khai thác tốt lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí hợp lý.
Xét theo phương thức nhập cảnh, đường hàng không tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với 16,3 triệu lượt khách, chiếm 83,2% tổng lượng khách quốc tế, tăng 11,5%. Khách đến bằng đường bộ đạt 3 triệu lượt, chiếm 15,5%, tăng 27,1%; đường biển đạt 255,2 nghìn lượt, chiếm 1,3%, tăng 24,6%. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng của khách đường bộ và đường biển cho thấy dư địa mở rộng thị trường thông qua các tuyến liên quốc gia, du lịch tàu biển và kết nối khu vực vẫn còn lớn.
|
| Khách quốc tế đến Việt Nam 10 tháng năm 2026 phân theo vùng lãnh thổ. |
Về cơ cấu thị trường, theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, châu Á tiếp tục là khu vực gửi khách lớn nhất với khoảng 14,6 triệu lượt, chiếm gần 75% tổng lượng khách. Châu Âu đạt 3,22 triệu lượt, chiếm 16,5%; châu Mỹ đạt hơn 1 triệu lượt và châu Úc khoảng 603.000 lượt.
Điểm sáng là thị trường châu Âu tăng tới 51,5%, trong khi khách châu Á tăng 7,3%. Nga ghi nhận hơn 1,2 triệu lượt khách, cùng với các thị trường Ấn Độ, Philippines và Campuchia đóng góp tích cực vào tăng trưởng. Diễn biến này cho thấy sức hút của du lịch Việt Nam đang mở rộng, tạo điều kiện đa dạng hóa nguồn khách và giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Tuy nhiên, hai thị trường lớn là Trung Quốc và Hàn Quốc đang có dấu hiệu chững lại. Trung Quốc dẫn đầu với hơn 4,3 triệu lượt khách nhưng chỉ tăng khoảng 1,4%; Hàn Quốc đạt hơn 3,3 triệu lượt, giảm khoảng 6,3%. Đây là tín hiệu cần được phân tích để có giải pháp duy trì sức cạnh tranh, nhất là khi giá vé máy bay, chi phí lưu trú và chất lượng trải nghiệm ngày càng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến.
Theo Cục Thống kê, tăng trưởng du lịch còn tạo hiệu ứng lan tỏa rõ nét đến các ngành dịch vụ. Trong 10 tháng năm 2026, doanh thu lưu trú, ăn uống đạt 847 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ. Một số địa phương ghi nhận mức tăng cao như Huế 20,3%; Đà Nẵng 20,2%; Quảng Ninh 20%; Lâm Đồng 19,4%; Khánh Hòa 18,7%; Hải Phòng 18,2%; Hà Nội 16,8% và Thành phố Hồ Chí Minh 15,7%.
Doanh thu du lịch lữ hành đạt 87,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1%. Trong đó, Lâm Đồng tăng 35%; Khánh Hòa tăng 30,4%; Huế tăng 28,8%; Quảng Ninh tăng 25,6%; Hải Phòng tăng 19,1%; Hà Nội tăng 16,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 16,5% và Đà Nẵng tăng 15,8%.
Những con số này cho thấy du lịch đang đóng góp ngày càng rõ nét vào hoạt động thương mại, dịch vụ, tạo việc làm và gia tăng nguồn thu cho các địa phương. Tuy nhiên, để nâng cao đóng góp vào GDP, ngành du lịch không thể chỉ tập trung tăng số lượt khách còn cần phải chú trọng mức chi tiêu, thời gian lưu trú và giá trị dịch vụ gia tăng ở mỗi du khách sử dụng. Đây là yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa tăng trưởng về lượng thành giá trị kinh tế thực chất gia tăng giá trị kinh tế cho ngành du lịch nói chung và phát triển các ngành liên quan đóng góp vào giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Tăng tốc thu hút khách, nâng cao hiệu quả đóng góp tăng trưởng
Với khoảng 19,5 triệu lượt khách quốc tế sau 10 tháng, Việt Nam đã hoàn thành hơn 78% mục tiêu đón 25 triệu lượt khách năm 2026. Như vậy, ngành du lịch cần thu hút thêm gần 5,5 triệu lượt khách trong hai tháng cuối năm, bình quân khoảng 2,73 triệu lượt mỗi tháng. Mức này cao hơn khoảng 47% so với lượng khách bình quân tháng 10, đặt ra áp lực lớn đối với hoạt động xúc tiến và khai thác thị trường.
Dù hai tháng cuối năm thường là mùa cao điểm đón khách quốc tế, mục tiêu trên vẫn là thách thức đáng kể. Sức mua toàn cầu chịu ảnh hưởng từ khó khăn kinh tế, chi phí vận chuyển hàng không biến động, trong khi các điểm đến trong khu vực liên tục triển khai chính sách thị thực linh hoạt và chương trình kích cầu quy mô lớn.
Vì vậy, ngành du lịch cần chuyển từ xúc tiến dàn trải sang tập trung nguồn lực vào những thị trường có khả năng tạo lượng khách thực tế. Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Tây Âu cần được ưu tiên, gắn với đặc điểm nhu cầu, khả năng chi trả và thời gian lưu trú của từng nhóm khách.
![]() |
| Hai tháng cuối năm thường là mùa cao điểm đón khách quốc tế. |
Trước mắt, cần xây dựng chương trình kích cầu riêng cho Trung Quốc và Hàn Quốc. Đây vẫn là hai thị trường có quy mô lớn, hệ thống đường bay thuận lợi và khả năng bổ sung lượng khách đáng kể. Với khách Trung Quốc, cần chú trọng sản phẩm du lịch ngắn ngày, văn hóa, mua sắm và ẩm thực; với khách Hàn Quốc, phát huy lợi thế nghỉ dưỡng biển, golf, du lịch gia đình và chăm sóc sức khỏe. Sản phẩm cần được thiết kế theo từng phân khúc, đi kèm chính sách giá cạnh tranh và hoạt động quảng bá trực tiếp.
Cùng với đó, cần khai thác hiệu quả các đường bay kết nối Việt Nam với Prague (Cộng hòa Czech), Almaty (Kazakhstan), Thượng Hải (Trung Quốc), Moscow (Nga), Ahmedabad (Ấn Độ), Copenhagen (Đan Mạch)... Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, hãng hàng không và doanh nghiệp lữ hành trong xây dựng tour, kết nối điểm đến và phân phối sản phẩm sẽ giúp hoạt động xúc tiến chuyển hóa thành lượng khách cụ thể.
Một yêu cầu quan trọng là nâng cao giá trị kinh tế từ mỗi lượt khách. Thay vì chỉ chạy theo số lượng, doanh nghiệp cần phát triển sản phẩm có khả năng kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu và phân bổ khách đến nhiều địa phương. Liên kết vùng, kết nối các trung tâm du lịch với điểm đến vệ tinh, khai thác lợi thế văn hóa, sinh thái và du lịch cộng đồng sẽ giúp mở rộng chuỗi giá trị, đưa lợi ích từ du lịch lan tỏa sâu hơn đến nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần kiểm soát chất lượng dịch vụ, bảo đảm an toàn, minh bạch giá cả và nâng cao năng lực phục vụ nhằm thu hút khách trong mùa cao điểm và quyết định khả năng quay trở lại của du khách quốc tế. Tạo dựng được môi trường du lịch chuyên nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo nguồn thu ổn định và cải thiện sức cạnh tranh dài hạn.
Kết quả 10 tháng cho thấy ngành du lịch Việt Nam đang có nhiều điều kiện để đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đón 25 triệu lượt khách và phát huy vai trò động lực tăng trưởng năm 2026, ngành cần tăng tốc thu hút khách gắn với nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng.





