Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Sổm Sai Nông Lath chia sẻ về các giải pháp đột phá nhằm khơi thông dòng chảy thương mại biên giới, giải pháp gỡ khó cho doanh nghiệp và khát vọng định hình một chuỗi giá trị chung vững chắc trong khu vực ASEAN.
Cuộc trò chuyện mở ra tầm nhìn toàn diện về sự dịch chuyển mạnh mẽ từ ký kết chính sách sang thực thi thực chất trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Lào. Qua đó, hai nước không chỉ hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại đạt 4 tỷ USD vào năm 2026 mà còn đồng hành kiến tạo chuỗi cung ứng chiến lược bền vững, cùng nhau tự tin bước ra thị trường quốc tế với một thương hiệu của sự tin cậy.
Dịch chuyển từ khung chính sách sang thực thi thực chất
- Thưa ông, trong những năm qua, Bộ Công Thương hai nước đã ký kết nhiều văn bản hợp tác quan trọng. Với vai trò tham tán kinh tế, ông đánh giá thế nào về tốc độ chuyển hóa các cam kết vĩ mô này vào thực tiễn hoạt động hợp tác của doanh nghiệp hai nước hiện nay?
Ông Sổm Sai Nông Lath: Theo quy luật thị trường, có thể khẳng định tốc độ chuyển hóa các cam kết vĩ mô giữa Bộ Công Thương hai nước vào thực tiễn đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ trạng thái “ký kết khung chính sách” sang “thực thi định lượng thực chất”. Mối quan hệ kinh tế - thương mại song phương hiện nay không còn vận hành đơn thuần dựa trên các ưu đãi thương mại vãng lai, mà đang được thúc đẩy bởi tính bổ trợ tự nhiên sâu sắc giữa hai cấu trúc kinh tế.
Tính thực chất hiện này được chứng minh rõ nét qua tốc độ tăng trưởng ổn định của kim ngạch thương mại song phương, hướng tới mục tiêu tổng thể đạt 4 tỷ USD vào năm 2026. Chúng ta đang nhìn thấy một dòng chảy dịch chuyển tài sản nội bộ chuỗi giá trị rất rõ ràng: Việt Nam đóng vai trò cung ứng giải pháp hạ tầng, công nghệ và vật tư thiết yếu; trong khi Lào chuyển giao nguồn lực năng lượng và nguyên liệu thô chất lượng cao cho chu kỳ chế biến sâu tại Việt Nam.
Một điểm sáng điều phối vĩ mô là sự phản ứng chính sách cực kỳ kịp thời của cơ quan quản lý hai nước. Các nút thắt kỹ thuật phát sinh về thủ tục thông quan biên giới, kiểm dịch nông sản hay truyền tải năng lượng đều được xử lý theo tư chế đồng hành cùng doanh nghiệp. Nhờ đó, chúng ta rút ngắn được tối đa độ trễ thời gian từ khi ký kết văn kiện đến khi doanh nghiệp phát sinh dòng tiền thực tế.
Dù vậy, đứng ở góc độ chuyên gia, kịch bản tăng trưởng bùng nổ trong năm 2026 vẫn phụ thuộc lớn vào tốc độ cải cách thủ tục hành chính hành vi, đồng bộ hóa tiêu chuẩn kỹ thuật và số hóa các chứng từ thương mại xuyên biên giới. Khi các rào cản kỹ thuật này tiếp tục được dỡ bỏ, tốc độ chuyển hóa chính sách sẽ còn tỷ lệ thuận với hiệu quả tối ưu chi phí của cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Xây dựng cơ chế đặc thù nâng chất thương mại biên giới
- Thương mại biên giới luôn là điểm sáng trong quan hệ Việt - Lào. Theo ông, chúng ta cần những cơ chế phối hợp đặc thù nào giữa các tỉnh biên giới để không chỉ tăng về “lượng” mà còn mạnh về “chất”?
Ông Sổm Sai Nông Lath: Với đường biên giới chung dài hơn 2.300 km, thương mại biên giới chính là chiếc van điều tiết và khơi thông trực tiếp cho nền kinh tế hai nước. Để dịch chuyển dòng chảy này từ diện rộng (tăng về "lượng") sang chiều sâu (mạnh về "chất"), chúng ta không thể tiếp tục áp dụng tư duy thương mại tiểu ngạch truyền thống mà phải thiết lập các Cơ chế kinh tế biên giới đặc thù, tập trung vào hai trụ cột: Hạ tầng logistics chuyên dụng và hài hòa hóa tiêu chuẩn quản lý.
Trước hết, việc thiết lập "Hành lang xanh" về logistics chuyên dụng là rất cần thiết. Đối với các mặt hàng có khối lượng lớn, cấu trúc cồng kềnh như than đá hay khoáng sản, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng chi phối trong cấu thành giá bán. Do đó, các tỉnh biên giới cần phối hợp quy hoạch hạ tầng kho bãi trung chuyển, khu kiểm định chất lượng đồng bộ và bến bãi tải trọng cao tại các cửa khẩu quốc tế trọng điểm nhằm tối ưu hóa chi phí logistics trên mỗi đơn vị tấn hàng.
Song song với đó, hai bên cần triển khai cơ chế vận hành cửa khẩu thông minh. Việc áp dụng mô hình thông quan một cửa điện tử, đồng bộ hóa thời gian mở cửa khẩu và chia sẻ dữ liệu hải quan theo thời gian thực sẽ giúp giảm thiểu tối đa các chi phí không chính thức, rút ngắn thời gian giải phóng hàng hóa từ 24 giờ xuống theo dòng chảy liên tục.
Cuối cùng là cơ chế phát triển chuỗi giá trị xuyên biên giới. Các địa phương biên giới cần chuyển từ tư duy "đối tác mua bán" sang "liên kết sản xuất". Ví dụ, kết hợp quỹ đất và nguồn lao động của các tỉnh Trung - Hạ Lào với năng lực công nghệ và nhà máy chế biến sâu của các tỉnh biên giới Việt Nam để hình thành các cụm công nghiệp - nông nghiệp xuyên biên giới, tạo ra sản phẩm hoàn thiện có hàm lượng giá trị gia tăng cao trước khi xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Đầu tư chiều sâu tái cấu trúc dòng chảy thương mại song phương

Theo ông Sổm Sai Nông Lath: Dự án năng lượng tái tạo tại Lào - một trong những mũi nhọn hợp tác chiến lược giúp đảm bảo an ninh năng lượng và thúc đẩy kim ngạch thương mại phái sinh từ đầu tư. Ảnh: NVCC.
- Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm đến việc đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng tại Lào. Ông có thể chia sẻ sâu hơn về một số điểm nhấn chính sách và thực tế triển khai các dự án lớn hiện nay? Các hoạt động này đã tác động ngược trở lại cấu trúc thương mại hai nước ra sao?
Ông Sổm Sai Nông Lath: Hiện nay, làn sóng đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào Lào đang chuyển dịch mạnh mẽ sang chiều sâu, tạo ra những "điểm nhấn" chiến lược cả về chính sách lẫn thực tế triển khai, từ đó tái cấu trúc sâu sắc quan hệ thương mại giữa hai nước.
Về chính sách, Chính phủ Lào đang triển khai nhiều cơ chế đột phá như ưu đãi thuế, phí đất đai dài hạn cho nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng; đồng thời thúc đẩy thủ tục "một cửa" nhằm thu hút dòng vốn chất lượng từ Việt Nam. Về thực tế triển khai, chúng ta đang chứng kiến sự bứt phá của các siêu dự án hạng đầu trong lĩnh vực năng lượng, khai khoáng và nông nghiệp công nghệ cao. Kế hoạch nhập khẩu điện từ Lào về Việt Nam năm 2026 dự kiến đạt từ 7 đến 8 tỷ kWh, đi cùng hợp đồng nhập khẩu than đá đạt hơn 5 triệu tấn từ Công ty Xe-Kong. Các tổ hợp nông nghiệp quy mô lớn của các tập đoàn Việt Nam như THACO tại Attapeu và Sekong cũng đã chuyển sang giai đoạn thu hoạch, tạo nguồn cung nông sản ổn định.
Những hoạt động đầu tư này không chỉ làm tăng quy mô mà còn thay đổi hoàn toàn bản chất cấu trúc thương mại song phương theo ba hướng cốt lõi. Đầu tiên là xác lập tính bổ trợ rõ nét về cơ cấu hàng hóa, Việt Nam đang dịch chuyển mạnh sang xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như máy móc, thiết bị phụ tùng phục vụ dự án, tăng hơn 130% năm 2025, và nhập khẩu nguồn năng lượng chiến lược từ các dự án do chính doanh nghiệp Việt đầu tư tại Lào.
Tiếp theo là hình thành chuỗi giá trị và thúc đẩy tăng trưởng đột phá, biến thương mại truyền thống thành thương mại phái sinh từ đầu tư. Đây chính là động lực cốt lõi giúp hai nước hướng tới mốc tổng kim ngạch 4 tỷ USD vào năm 2026. Cuối cùng, hai Chính phủ đang quyết liệt phối hợp nâng cấp các hành lang logistics chuyên dụng và nghiên cứu cơ chế thanh toán linh hoạt bằng nội tệ VND và Kíp để tháo gỡ điểm nghẽn thiếu hụt ngoại tệ USD của thị trường.
Có thể khẳng định, đầu tư và thương mại Việt Nam - Lào hiện nay không còn là hai hoạt động độc lập, mà đã hòa làm một, tạo bệ phóng vững chắc cho an ninh năng lượng và sự phát triển bền vững của cả hai nền kinh tế.
Giải pháp kỹ thuật linh hoạt khơi thông các cơ hội hợp tác

Dự án năng lượng tái tạo tại Lào - một trong những mũi nhọn hợp tác chiến lược giúp đảm bảo an ninh năng lượng và thúc đẩy kim ngạch thương mại phái sinh từ đầu tư. Ảnh: NVCC.
- Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Tham tán Kinh tế là “gỡ khó” cho doanh nghiệp. Ông có thể chia sẻ về một bài toán thực tế mang tính kỹ thuật mà ông và các cộng sự đã xử lý thành công để khơi thông các cơ hội hợp tác gần đây?
Ông Sổm Sai Nông Lath: Trong hoạt động thương mại quốc tế, những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp đôi khi không nằm ở nhu cầu thị trường, mà nằm ở các nút thắt kỹ thuật về cơ chế thanh toán và logistics vận tải. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải phối hợp với các cơ quan chức năng hai nước tìm ra giải pháp kỹ thuật cụ thể để khơi thông dòng chảy này.
Theo các chuyên gia của hai Bộ Công Thương Việt Nam - Lào nghiên cứu, điều phối chuỗi cung ứng xăng dầu và than là hai mũi nhọn có dư địa bứt phá lớn nhất hiện nay. Điển hình như bài toán khơi thông xuất khẩu xăng dầu, Lào có nhu cầu tiêu thụ khoảng 2 triệu m3 xăng dầu một năm, tuy nhiên thị phần của Việt Nam trước đây còn khá khiêm tốn do đối tác Lào gặp khó khăn về nguồn ngoại tệ mạnh USD để quyết toán.
Để giải quyết, hai bộ đã phối hợp chặt chẽ với hệ thống ngân hàng hai nước thúc đẩy giải pháp kinh tế kỹ thuật là khuyến khích cơ chế thanh toán bằng đồng nội tệ LAK/VND và thí điểm cơ chế thanh toán đối lưu. Theo đó, Việt Nam tăng cường nhập khẩu than đá hoặc khoáng sản từ Lào và thanh toán bằng VND, phía Lào sử dụng chính nguồn VND này để chi trả cho các đơn hàng nhập khẩu xăng dầu từ các đầu mối lớn của Việt Nam như PVOIL, Petrolimex. Giải pháp này sẽ giúp hiện thực hóa mục tiêu nâng thị phần xăng dầu Việt Nam tại Lào lên 15 - 20%, mang lại giá trị xuất khẩu tăng thêm khoảng trên 180 triệu USD trong năm 2026. Đây cũng là bài toán tối ưu mà các chuyên gia đưa ra mang tính tham khảo và thực hiện hiệu quả.
Định hình thương hiệu chuỗi cung ứng Việt - Lào trong ASEAN

Theo ông Sổm Sai Nông Lath: Doanh nghiệp Việt Nam và Lào tăng cường kết nối cung cầu, đồng kiến tạo chuỗi cung ứng khu vực nhằm đưa kim ngạch song phương đạt mốc 4 tỷ USD vào năm 2026. Ảnh: Trường Giang.
- Hướng tới tương lai, ông kỳ vọng gì về một “chuỗi cung ứng Việt - Lào” trong khu vực ASEAN? Làm sao để hai nước không chỉ là đối tác của nhau, mà còn cùng nhau bước ra thị trường thế giới dưới một thương hiệu chung của sự tin cậy?
Ông Sổm Sai Nông Lath: Tôi cho rằng, đây là một câu hỏi rất có ý nghĩa, bởi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và các chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc mạnh mẽ, việc xây dựng một chuỗi cung ứng Việt Nam - Lào không chỉ là mong muốn mà đã trở thành yêu cầu thực tiễn để nâng cao năng lực cạnh tranh của cả hai nền kinh tế.
Việt Nam và Lào có những lợi thế mang tính bổ trợ rất rõ nét. Lào có tiềm năng lớn về đất đai, năng lượng, khoáng sản, nông - lâm nghiệp và vị trí kết nối giữa các nước trong Tiểu vùng Mekong. Trong khi đó, Việt Nam có thế mạnh về nguồn nhân lực, công nghiệp chế biến, hệ thống logistics, năng lực xuất khẩu và mạng lưới hội nhập quốc tế rộng rãi thông qua nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nếu biết kết hợp hiệu quả những lợi thế đó, hai nước hoàn toàn có thể hình thành các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng khu vực có sức cạnh tranh cao.
Kỳ vọng lớn nhất của tôi là thời gian tới sẽ xuất hiện ngày càng nhiều mô hình hợp tác theo chuỗi, trong đó nguyên liệu, năng lượng hoặc sản phẩm sơ chế được phát triển tại Lào, còn các khâu chế biến sâu, đóng gói, logistics, marketing và xuất khẩu được thực hiện thông qua hệ thống sản xuất và thương mại của Việt Nam. Cách tiếp cận này không chỉ giúp gia tăng giá trị cho sản phẩm mà còn tạo ra lợi ích hài hòa cho doanh nghiệp và người dân của cả hai nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, trước hết, hai bên cần tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào kết nối hạ tầng, đặc biệt là các tuyến giao thông chiến lược, cửa khẩu quốc tế, trung tâm logistics và hệ thống kho bãi. Những dự án kết nối hành lang kinh tế Đông - Tây, tuyến đường nối các tỉnh Trung - Nam Lào với các cảng biển của Việt Nam như khu vực Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng hay Quy Nhơn sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảm chi phí vận chuyển và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Bên cạnh đó, hai nước cần thúc đẩy hài hòa các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm định, kiểm dịch và thủ tục thương mại, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử.
Một yếu tố rất quan trọng khác là xây dựng thương hiệu chung dựa trên nền tảng chất lượng, trách nhiệm và sự tin cậy. Khi các doanh nghiệp hai nước cùng tuân thủ tiêu chuẩn cao về chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội và cam kết với đối tác, thì “Việt Nam - Lào” không chỉ là tên gọi của hai quốc gia láng giềng mà còn có thể trở thành biểu tượng của sự ổn định, uy tín và hợp tác bền vững trong khu vực. Mục tiêu quy mô thương mại 4 tỷ USD vào năm 2026 suy cho cùng không phải là một con số hành chính đơn thuần. Đó là kết quả tất yếu của quá trình chúng ta tối ưu hóa chuỗi cung ứng xuyên quốc gia, chuyển dịch từ tư duy liên kết song phương mua bán nhỏ lẻ sang tư duy đồng kiến tạo giá trị và cùng vị thế bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Với vai trò "cầu nối" chiến lược, cơ quan Tham tán Kinh tế và Thương mại Lào tại Việt Nam không chỉ đại diện ngoại giao vĩ mô mà đã trực tiếp tham gia giải quyết các bài toán kỹ thuật gai góc của thị trường. Bằng việc đồng hành sát sao cùng cơ quan quản lý hai nước tháo gỡ nút thắt về cơ chế thanh toán và logistics, cơ quan tham tán đã thúc đẩy dòng vốn đầu tư dịch chuyển mạnh mẽ, biến các tiềm năng kinh tế thành động lực tăng trưởng thực chất và vững chắc cho cộng đồng doanh nghiệp Việt - Lào.

