Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển kinh tế lâm nghiệp từ mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng

Trong bối cảnh nhu cầu dược liệu trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng, mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng đang được nhiều địa phương xem là giải pháp quan trọng nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng xanh và bền vững. Không chỉ góp phần bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, mô hình này còn tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân miền núi, đồng thời mở rộng chuỗi giá trị ngành dược liệu Việt Nam.

Phát triển kinh tế lâm nghiệp từ mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng

Phát triển kinh tế lâm nghiệp từ mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng.

Theo Viện Dược liệu, nhu cầu nguyên liệu dược trong nước hiện đạt khoảng 60.000-80.000 tấn mỗi năm, song nguồn cung mới chỉ đáp ứng khoảng 20-30%. Điều này cho thấy dư địa rất lớn cho ngành dược liệu Việt Nam phát triển theo hướng hàng hóa, gia tăng giá trị kinh tế lâm nghiệp.

Những năm qua, chủ trương phát triển kinh tế dưới tán rừng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thúc đẩy. Nhiều địa phương đã hình thành các vùng trồng dược liệu tập trung gắn với điều kiện sinh thái đặc thù. Tại Kon Tum và Quảng Nam, cây sâm Ngọc Linh trở thành sản phẩm chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao. Các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Điện Biên hay Lai Châu phát triển mạnh các loại dược liệu như thảo quả, đương quy, sa nhân, ba kích, giảo cổ lam. Khu vực Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng đẩy mạnh trồng chè vằng, hà thủ ô đỏ, đảng sâm dưới tán rừng.

Điểm chung của các mô hình này là tận dụng hiệu quả điều kiện sinh thái tự nhiên, giảm chi phí đầu tư, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực tới môi trường rừng. Người dân vừa có thêm thu nhập từ cây dược liệu, vừa có động lực tham gia bảo vệ và chăm sóc rừng.

Theo ngành lâm nghiệp, cây dược liệu hiện phát triển mạnh tại các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc. Riêng tại Yên Bái, năm 2025 toàn tỉnh có khoảng 4.000 ha dược liệu, sản lượng hơn 10.660 tấn; trong đó gần 100 ha dược liệu khai thác tự nhiên cho sản lượng khoảng 130 tấn mỗi năm. Sơn La có hơn 16.140 ha cây dược liệu với sản lượng khoảng 26.000 tấn. Tại Lai Châu, địa phương sở hữu gần 900 loài dược liệu, trong đó có khoảng 20 loài quý hiếm cần bảo tồn như sâm Lai Châu, bảy lá một hoa, lan kim tuyến. Song song với phát triển vùng nguyên liệu, tỉnh cũng chú trọng bảo tồn nguồn gen các loài cây thuốc quý.

Khu vực Tây Bắc với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù đang trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực dược liệu. Phần lớn các dự án đều tập trung phát triển mô hình trồng dưới tán rừng nhằm bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Không chỉ người dân chủ động chuyển đổi cây trồng, nhiều doanh nghiệp cũng tham gia liên kết phát triển vùng nguyên liệu dược liệu. Tại Lạng Sơn, mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân bước đầu hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất dược liệu. Doanh nghiệp hỗ trợ kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm, giúp người dân yên tâm sản xuất và ổn định đầu ra.

Theo đánh giá của ngành nông nghiệp, mô hình trồng dược liệu xen canh dưới tán rừng mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây lâm nghiệp truyền thống. Nếu các loại cây như keo, mỡ hay thông phải mất từ 5-7 năm mới cho thu hoạch thì nhiều loại dược liệu chỉ cần khoảng một năm đã có thể cung ứng ra thị trường. Điều này giúp người dân có nguồn thu nhanh hơn, cải thiện đáng kể đời sống.

Để thúc đẩy phát triển ngành dược liệu, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng. Ngày 30/10/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Mục tiêu là phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Theo quy hoạch, cả nước sẽ phát triển 54 loài dược liệu thế mạnh tại 8 vùng sinh thái trọng điểm, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước vào năm 2030. Đồng thời, xây dựng quy trình trồng và thu hái theo tiêu chuẩn GACP-WHO, hướng tới chuẩn hóa 100% nguyên liệu phục vụ sản xuất thuốc trong nước và tăng khả năng xuất khẩu.

Tiếp đó, ngày 1/6/2023, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển sâm Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Đây được xem là cú hích quan trọng không chỉ với ngành sâm mà còn mở rộng cơ hội phát triển nhiều loại cây dược liệu khác dưới tán rừng.

Tính đến đầu năm 2025, cả nước đã trồng khoảng 28.000 ha với 54 loài cây dược liệu, cung ứng khoảng 110.000 tấn dược liệu các loại cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, việc phát triển dược liệu vẫn đối mặt nhiều khó khăn như quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ, sản phẩm chủ yếu ở dạng thô nên giá trị gia tăng chưa cao.

Để phát triển dược liệu thành ngành hàng quy mô lớn, cần quy hoạch vùng nguyên liệu mang tính chiến lược, ổn định và bền vững. Cùng với đó là đẩy mạnh đầu tư công nghệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách về phát triển kinh tế rừng, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư phát triển cây dược liệu theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường.

Phát triển kinh tế lâm nghiệp từ mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng không chỉ mở ra hướng làm giàu cho người dân miền núi mà còn góp phần bảo vệ môi trường thiên nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và thúc đẩy phát triển rừng bền vững. Khi được đầu tư bài bản về quy hoạch, khoa học công nghệ và liên kết thị trường, dược liệu dưới tán rừng sẽ trở thành ngành hàng có giá trị kinh tế cao, đóng góp tích cực cho tăng trưởng xanh và an sinh xã hội ở nhiều địa phương.

Trang Nguyễn
Thích

Tin liên quan

Video