Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở Việt Nam: Thực trạng và tác động đến phát triển kinh tế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, đổi mới sáng tạo (ĐMST) được xem là động lực trung tâm của tăng trưởng kinh tế dài hạn, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD) và Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, những nền kinh tế đầu tư hiệu quả cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thường đạt tăng trưởng bền vững hơn và có khả năng thích ứng tốt hơn trước các cú sốc kinh tế toàn cầu (OECD, 2025b).

TS.Nguyễn Thị Hằng

Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Email: [email protected]

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại Việt Nam, ĐMST không chỉ là công cụ nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh mà còn là con đường quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từng bước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam cần chủ động về chính sách thúc đẩy ĐMST nhằm gia tăng giá trị nội địa và giảm phụ thuộc vào lợi thế chi phí lao động thấp (UN, 2020). ĐMST ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế như mức chi cho R&D so với GDP vẫn thấp; năng lực đổi mới của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học chưa thực sự hiệu quả (OECD, 2025a). Đồng thời tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp, khiến tác động lan tỏa của ĐMST tới toàn bộ nền kinh tế chưa rõ nét.

Nhiều nghiên cứu quốc tế khẳng định vai trò của chính sách công trong thúc đẩy ĐMST và tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư công cho R&D, ưu đãi thuế và phát triển hạ tầng đổi mới (Mazzucato, 2013; Ahn, 2002). Ở Việt Nam, các nghiên cứu hiện nay cho thấy, hỗ trợ của Nhà nước có tác động tích cực đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp (Tran Quang Tuyen và Vu Van Huong, 2018) và mối quan hệ tích cực giữa ĐMST và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, song vẫn thiếu các phân tích mang tính tổng thể về hệ thống chính sách hỗ trợ ĐMST và tác động kinh tế của chúng. Vì vậy, việc phân tích chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở Việt Nam và phân tích và tác động đến phát triển kinh tế là cần thiết.

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quá trình hình thành quan điểm và chính sách hỗ trợ ĐMST của Việt Nam trải qua các giai đoạn từ cải cách thể chế, xây dựng khung pháp lý khoa học - công nghệ, đến định hướng chiến lược quốc gia về đổi mới sáng tạo.

Giai đoạn đổi mới thể chế - nền tảng cho sáng tạo (1986-2000): Công cuộc Đổi Mới được khởi xướng tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới giai đoạn này tập trung vào “cởi trói” thể chế, mở cửa cho khu vực tư nhân phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường cho năng lực sáng tạo phát triển. Mặc dù thuật ngữ “đổi mới sáng tạo” chưa xuất hiện phổ biến, tư duy sáng tạo bắt đầu được đặt nền tảng thông qua việc thúc đẩy kinh tế thị trường và tiếp nhận công nghệ bên ngoài. Theo đó, Đổi Mới từng được mô tả là “tạo cơ hội cho tất cả cá nhân và tổ chức được tham gia hoạt động kinh tế” - mở rộng không gian sáng tạo xã hội sau nhiều năm bị hạn chế bởi cơ chế cũ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2025).

Giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý, phát triển năng lực nội sinh (2001-2015): Thế kỷ XXI, định hướng chính sách của Việt Nam bắt đầu coi ĐMST là một nội dung cần xây dựng thành hệ thống chính sách. Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy khoa học - công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, và tạo điều kiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Năm 2027, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới để hội nhập sâu rộng hơn, đưa ra yêu cầu cạnh tranh quốc tế, buộc phải đổi mới trong sản xuất, dịch vụ và quản lý. Luật Khoa học và Công nghệ (2000, 2013) và Luật Sở hữu trí tuệ (2005, 2009, 2019, 2022) được coi như khung pháp lý để thúc đẩy nghiên cứu và sáng tạo trong nước, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Trong giai đoạn này, khái niệm “hệ sinh thái đổi mới sáng tạo” bắt đầu xuất hiện trong các chính sách của Chính phủ nhằm thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp, như một yếu tố cần thiết để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới gắn với thị trường.

Giai đoạn ĐMST là động lực chiến lược quốc gia (2016-nay): Từ giữa thập niên 2010, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, ĐMST được nhìn nhận là động lực tăng trưởng chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam chính thức trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Dấu mốc quan trọng trong giai đoạn này là việc thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) năm 2019 thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) - cơ quan đầu mối thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia, thu hút doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và startup tham gia vào quá trình sáng tạo sản phẩm, dịch vụ mới. Bên cạnh đó, các chính sách như Chương trình thách thức ĐMST đặt định hướng cụ thể để thúc đẩy doanh nghiệp sáng tạo và thu hút vốn đầu tư (VCCI, 2023). Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và ĐMST đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 569/QĐ-TTg, ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ), đã khẳng định vai trò trung tâm của ĐMST trong mô hình tăng trưởng mới, hướng tới nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ ĐMST toàn cầu. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh, phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ngày 27/6/2025, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Luật này quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và ĐMST của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chính sách, biện pháp bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy ĐMST. Đặc biệt, Luật đã cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, mở đường cho Việt Nam vươn lên bằng tri thức, khoa học và đổi mới sáng tạo. Theo đó, Luật khẳng định rõ ràng vai trò nền tảng của khoa học và công nghệ. Ngoài ra, ĐMST lần đầu tiên, được đưa vào Luật và được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ. Đây là một sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Trong khi khoa học và công nghệ là hoạt động chuyên môn của các nhà khoa học, tập trung vào nghiên cứu, phát triển tri thức và công nghệ mới, thì ĐMST là quá trình của toàn dân. Luật cũng xác lập định hướng rõ ràng về việc chuyển từ một quốc gia chủ yếu sử dụng công nghệ sang làm chủ các công nghệ chiến lược. Khoa học và công nghệ và ĐMST sẽ lấy thị trường, định hướng sản phẩm làm động lực, làm định hướng cho phát triển công nghệ và xác định các bài toán nghiên cứu liên quan. Đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ĐMST, từng bước hình thành các trung tâm nghiên cứu trình độ cao gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao, bảo đảm phối hợp hiệu quả với mạng lưới viện nghiên cứu chuyên ngành. Lần đầu tiên, Luật dành một chương riêng (Chương IV) để quy định các chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển và ĐMST trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp được khuyến khích mạnh mẽ đầu tư cho R&D, không chỉ bằng nguồn lực của mình mà còn được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc vốn mồi. Luật định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh và cân bằng, theo đó, hệ sinh thái này bao gồm thể chế, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và các chủ thể như doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học, định chế tài chính, tổ chức trung gian, trung tâm ĐMST và quỹ đầu tư mạo hiểm. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm dùng chung, hỗ trợ thông tin, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, ban hành cơ chế tài chính ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp ĐMST, đồng thời thu hút và đãi ngộ nhân tài, chuyên gia trong và ngoài nước.

Chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở Việt Nam: Thực trạng và tác động đến phát triển kinh tế

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tác động đến tăng trưởng kinh tế

Theo Báo cáo Global Innovation Index (GII) năm 2025, Việt Nam giữ vị trí 44/139 quốc gia và nền kinh tế, đồng thời xếp thứ 2 trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp, cho thấy năng lực ĐMST được cải thiện ổn định trong nhiều năm qua (WIPO, 2025). Xu hướng này cho thấy mô hình tăng trưởng đang từng bước dịch chuyển từ phụ thuộc vào vốn và lao động truyền thống sang dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ.

Tác động nổi bật đến kinh tế là sự cải thiện về năng suất lao động. Trong giai đoạn 2014-2024, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trên thế giới (xếp hạng thứ 4 toàn cầu theo một số thống kê quốc tế), vượt nhiều nước cùng mức thu nhập. Điều này cho thấy, chính sách ĐMST không chỉ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà còn thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ và cải tiến quy trình trong sản xuất - dịch vụ, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế tổng thể.

Bên cạnh đó, tỷ lệ chi cho R&D so với GDP của Việt Nam đã tăng từ 0,15% năm 2011 lên 0,41% năm 2023, phản ánh sự gia tăng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo, tuy nhiên, mức này vẫn còn thấp so với trung bình khu vực và nhiều quốc gia khác trên thế giới (Hình).

Năm 2025 ghi nhận sự tiến bộ về chỉ số đầu vào ĐMST (tăng từ 53 lên 50) và duy trì đầu ra ở thứ hạng 37, phản ánh hiệu quả của chính sách hỗ trợ ĐMST trong dài hạn khi nguồn lực được dịch chuyển hiệu quả vào hoạt động sáng tạo và chuyển giao công nghệ (Bảng 1).

BẢNG 1: MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐMST VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Chỉ tiêu

Thứ hạng/tổng số quốc gia

Ý nghĩa đối với tăng trưởng

GII toàn cầu 2025

44/139

Năng lực đổi mới toàn diện tăng cao

Tăng đầu vào GII

50/139

Cải thiện cơ chế thể chế và nhân lực

Tăng đầu ra GII

37/139

Sản phẩm, công nghệ xuất khẩu tăng

Chi R&D/GDP

0,43% (năm 2021)

Đầu tư cho ĐMST tăng hơn 2 lần

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ WIPO GII 2025 và OECD Economic Surveys 2025

Các số liệu trên không chỉ minh chứng cho sự tiến bộ trong các chỉ số ĐMST của Việt Nam mà còn phản ánh tác động tích cực của chính sách ĐMST đối với năng suất lao động và nền tảng tăng trưởng, nhất là khi các lĩnh vực công nghệ cao và sản phẩm sáng tạo chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong xuất khẩu quốc gia.

Tác động đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Chính sách hỗ trợ ĐMST trở thành động lực quan trọng, nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Thông qua ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đổi mới công nghệ và thúc đẩy hợp tác công - tư, Việt Nam ngày càng thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với công nghệ. Theo Bảng 2, năm 2024, lĩnh vực ĐMST thu hút khoảng 2,3 tỷ USD từ các quỹ nước ngoài qua 141 thương vụ, trong đó các khoản đầu tư quy mô lớn (100-300 triệu USD) tăng gần 2,7 lần so với năm trước. Diễn biến này cho thấy, sự dịch chuyển rõ rệt của nhà đầu tư quốc tế từ các ngành thâm dụng lao động sang lĩnh vực công nghệ và sáng tạo có giá trị gia tăng cao.

BẢNG 2: MỘT SỐ CHỈ BÁO ĐẦU TƯ CHO ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI VIỆT NAM 2023-2024

Chỉ tiêu

Năm 2023

Năm 2024

Tổng vốn đầu tư cho ĐMST (tỷ USD)

1,5

2,3

Số giao dịch đầu tư (số thương vụ)

108

141

Giao dịch quy mô lớn (100-300 triệu USD)

Năm gốc

Tăng 2,7 lần so với năm 2023

Nguồn: Vietnam Innovation and Capital Report 2025

Việt Nam được đánh giá là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI. Báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), trong năm 2025, tổng vốn đầu tư FDI đăng ký vào Việt Nam đạt khoảng 38,42 tỷ USD, tăng khoảng 0,5% so với năm 2024. Các chính sách hỗ trợ ĐMST như: ưu đãi thuế cho doanh nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ hệ sinh thái startup và thúc đẩy hợp tác viện - trường - doanh nghiệp đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, từ đó thu hút dòng vốn FDI có hàm lượng công nghệ cao hơn, mở rộng mạng lưới liên kết toàn cầu. Mặt khác, năng lực cạnh tranh cũng được thể hiện qua sự gia tăng nhanh chóng của cộng đồng startup trong nước. Giai đoạn 2020-2022, Việt Nam đã hình thành hơn 3.000 startup đổi mới sáng tạo, với tổng vốn đầu tư đạt gần 2 tỷ USD. Sự phát triển này không chỉ làm gia tăng mức độ cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên tri thức và sáng tạo.

Tác động đến hạ tầng, nhân lực và môi trường kinh doanh

- Tác động tới hạ tầng: Chính sách hỗ trợ ĐMST, điển hình là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, coi phát triển hạ tầng công nghệ - đặc biệt là hạ tầng số - là một trong những trụ cột chiến lược để tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh việc hình thành thị trường công nghệ, đầu tư cho đổi mới sáng tạo và xóa “vùng lõm” số nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công và năng lực chuyển đổi số trên toàn quốc. Đây là nền tảng thiết yếu để doanh nghiệp và cơ quan quản lý phát triển các hệ thống ICT, dữ liệu lớn và hạ tầng mạng phục vụ nghiên cứu, kinh doanh và dịch vụ số. Hiện nay, Việt Nam có mức độ phủ sóng 5G đạt gần 70%-75%, với sự đầu tư mạnh mẽ vào mạng viễn thông băng rộng và hệ thống trung tâm dữ liệu, dịch vụ trực tuyến và các hoạt động ĐMST liên quan đến công nghệ kết nối cao.

- Tác động tới nguồn nhân lực: Một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách ĐMST ở Việt Nam là nâng cao chất lượng và kỹ năng của lực lượng lao động. Các chính sách thúc đẩy ĐMST thường đi kèm với các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho người lao động và chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành có hàm lượng tri thức, công nghệ cao. Chính sách hỗ trợ ĐMST cũng xác định việc liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp là yếu tố then chốt để phát triển nguồn nhân lực ĐMST. Hoạt động này không chỉ thúc đẩy đào tạo ứng dụng, mà còn tạo cơ hội cho sinh viên - nhà nghiên cứu làm việc trực tiếp với doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực thực hành, đặc biệt trong các lĩnh vực như dữ liệu lớn, AI và sản xuất thông minh. Việt Nam đặt mục tiêu chi cho R&D chiếm 2 % GDP vào năm 2030; khoảng 500.000 nhân lực IT và khoảng 60.000 kỹ sư mới mỗi năm (Mộc An, 2025).

- Tác động tới môi trường kinh doanh: Chính sách hỗ trợ ĐMST đã tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam thông qua việc cải cách thể chế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp ĐMST, đồng thời tăng cường cạnh tranh và thu hút đầu tư công nghệ cao. Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đã đạt hơn 4.000 startup tính tới cuối năm 2024, trong đó có các unicorn công nghệ nội địa như VNG và MoMo, cùng với khoảng 208 quỹ đầu tư mạo hiểm và 79 vườn ươm khởi nghiệp, góp phần phát triển hệ sinh thái đổi mới mạnh mẽ hơn trước (Trọng Đạt, 2025). Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng với những chính sách liên quan đặt trọng tâm vào việc hoàn thiện khung pháp lý, ưu đãi thuế, hỗ trợ tiếp cận vốn và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Một số đánh giá

Hệ thống chính sách hỗ trợ ĐMST ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển thể hiện ở việc xác lập rõ vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và từng bước hình thành hệ sinh thái ĐMST quốc gia. Việc ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 cùng các chương trình như Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (ban hành theo Quyết định số 844/QĐ-TTg, ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ) đã tạo nền tảng pháp lý và định hướng dài hạn cho hoạt động ĐMST, phù hợp với xu hướng quốc tế và khuyến nghị của các tổ chức như OECD và Ngân hàng Thế giới.

Tuy nhiên, hiệu quả thực thi chính sách chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng. Mức đầu tư cho R&D của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với chuẩn khu vực và quốc tế, trong khi sự tham gia của khu vực doanh nghiệp vào hoạt động đổi mới sáng tạo còn hạn chế cả về quy mô lẫn chiều sâu. Theo đó, tỷ lệ chi cho R&D so với GDP của Vieejtg Nam đã tăng từ 0,15% năm 2011 lên 0,41% năm 2023, phản ánh sự gia tăng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo, tuy nhiên, mức này vẫn còn thấp so với trung bình khu vực và nhiều quốc gia khác trên thế giới (Vũ Sỹ Cường, 2026).

Chính sách hỗ trợ ĐMST tại Việt Nam còn mang tính phân tán, thiếu liên kết theo chuỗi từ R&D đến thương mại hóa, làm giảm tác động lan tỏa của đổi cạnh tranh quốc gia (OECD, 2025a). Bên cạnh đó, các rào cản về nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp ĐMST và thủ tục hành chính vẫn là những điểm nghẽn quan trọng.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Thứ nhất, tăng cường tính đồng bộ và tích hợp của hệ thống chính sách hỗ trợ ĐMST. Thay vì triển khai các chương trình rời rạc, chính sách cần được thiết kế theo cách tiếp cận hệ thống, gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư công cho R&D, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, phát triển thị trường công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Thứ hai, nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong hệ thống ĐMST quốc gia. Chính sách hỗ trợ nên chuyển mạnh từ hỗ trợ mang tính hành chính sang tạo động lực thị trường, thông qua ưu đãi thuế cho hoạt động R&D, cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế. Sự tham gia chủ động của khu vực doanh nghiệp là điều kiện then chốt để ĐMST ra tác động thực chất đến tăng trưởng kinh tế (OECD, 2025b).

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ĐMST cần được coi là ưu tiên chiến lược. Ngoài việc mở rộng đào tạo STEM, chính sách cần chú trọng phát triển các kỹ năng liên ngành, kỹ năng thương mại hóa công nghệ và quản trị đổi mới. Các nước đang phát triển cần gắn đào tạo nguồn nhân lực ĐMST với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường lao động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tri thức (UNESCO, 2025).

Thứ tư, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và hệ thống tài chính cho ĐMST. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện khung pháp lý cho đầu tư mạo hiểm và tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

*Bài viết là một phần kết quả nghiên cứu của Nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp Bộ 2025- 2026 với tên gọi “Chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở Nam Phi, Kenya và Morocco” do TS. Nguyễn Thị Hằng là chủ nhiệm nhiệm vụ; Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi là cơ quan chủ trì.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ahn, S. (2002). Competition, Innovation and Productivity Growth: A Review of Theory and Evidence. OECD Economics Department Working Papers, 2002(3). https://doi.org/10.1787/182144868160
  2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới (2025). Việt Nam 2015: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. https://data.opendevelopmentmekong.net/dataset/786c1b93-7c89-4025-a9fa-d61b7709a284/ resource/8764e613-56cc-42e5-b85b-48706c395d24/download/vietnam-2035_vn.pdf
  3. Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Tài chính (2025). Báo cáo tình hình thu hút FDI 12 tháng năm 2025.
  4. Mazzucato, M. (2013). The Entrepreneurial State: Debunking Private vs. Public Sector Myths.
  5. Mộc An (2025). Chuyên gia Thung lũng Silicon nói cách để Việt Nam tăng trưởng nhảy vọt. https://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-gia-thung-lung-silicon-noi-cach-de-viet-nam-tang-truong-nhay-vot-20250730111351649.htm.
  6. OECD (2025a). OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. OECD Economic Surveys, 2025. https://doi.org/10.1787/ fb37254b-en
  7. OECD (2025b). Full Report: OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-surveys-viet-nam-2025_fb37254b-en/full-report.html
  8. UN (2020). Industrial Development Report 2020 (IDR2020). https://www.unido.org/resources/publications/industrial-development-report-series/idr2020
  9. UNESCO (2025). Data for the Sustainable Development Goals | Institute for Statistics (UIS). https://www.uis.unesco.org/en
  10. VCCI (2023). Viet Nam Innovation Chellenge. https://vic.nic.gov.vn//2023-en
  11. Vũ Sỹ Cường (2026). Tham luận Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 chủ đề: “Mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, ngày 25/3/2026.
  12. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 569/QĐ-TTg, ngày 11/5/2022 ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và ĐMST đến năm 2030.
  13. Tran Quang Tuyen, T. Q., & Vu Van Huong, V. V. (2018). The Impact of Government Support on Innovations of Small and Medium Enterprises in Vietnam. Vnu Journal of Economics and Business, 34(4). https://js.vnu.edu.vn/EAB/article/ view/4195
  14. Trọng Đạt (2025). Việt Nam có hơn 4.000 startup công nghệ, https://vnexpress.net/viet-nam-co-hon-4-000-startup-cong-nghe-4993241.html.
  15. WB (2020). Vietnam: Science, Technology and Innovation Report 2020. https://documents1.worldbank.org/curated/ en/929681629871018154/pdf/Vietnam-Science-Technology-and-Innovation-Report.pdf?utm
  16. WIPO (2025). Global innovation index 2025: Vietnam country profile. https://www.wipo.int/edocs/gii-ranking/2025/vn.pdf
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 3 - Tháng 4/2026
TS.Nguyễn Thị Hằng
Thích

Tin liên quan

Video