|
| Các ngành nghề sử dụng công nghệ cũ tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về môi trường. |
Nhận diện nguy cơ “bãi rác công nghệ”
Cụ thể, theo báo cáo của Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội, trong 8 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động ổn định, có nhóm ngành tiềm ẩn “công nghệ thấp – phát thải cao” chiếm khoảng 29,6% (tương ứng 223/753 doanh nghiệp).
Trực diện hơn, Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội cũng chỉ rõ các KCN đang có tỷ lệ lớn các doanh nghiệp “công nghệ thấp – phát thải cao”. Đơn cử như: KCN Quang Minh (41,1%), KCN Nội Bài (37,2%), KCN Thăng Long (29,9%), KCN Phú Nghĩa (25,8%).
Top 10 ngành tiềm ẩn “công nghệ thấp – phát thải cao” cũng được chỉ mặt đặt tên. Trong đó, lĩnh vực gia công cơ khí; xử lý và tráng phủ kim loại (hiện có 53 doanh nghiệp); sản xuất sản phẩm từ plastic (có 33 doanh nghiệp); sản xuất các cấu kiện kim loại (16 doanh nghiệp); in ấn (11 doanh nghiệp); sản xuất giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa (7 doanh nghiệp)…
Một dấu hiệu nữa cũng rất quan trọng để nhận diện các ngành, lĩnh vực “công nghệ thấp - phát thải cao” tại các KCN chính là chỉ báo về bình quân sử dụng lao động/ha đất sử dụng. Theo tiêu chí này, Hà Nội đã lọc ra các KCN như: Sài Đồng B (330,9 người/ha), KCN Thăng Long (216,6 người/ha), KCN Nội Bài (147,9 người/ha)...
Bên cạnh đó là chỉ báo về hiệu quả sử dụng đất, được đo lường bằng nộp ngân sách nhà nước/ha đất cho thuê sử dụng/năm. Trong năm 2025, nhóm KCN có nộp ngân sách nhà nước/ha thấp nhất, có thể kể đến KCN Nam Thăng Long (0,78 tỷ đồng/ha), KCN Phú Nghĩa (2,07 tỷ đồng/ha), KCN Quang Minh (3,82 tỷ đồng/ha).
Phân tích sâu hơn dấu hiệu của cái gọi là “bãi rác công nghệ”, ông Trần Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội nhấn mạnh rằng: cần hiểu đúng, không phải là rác thải theo nghĩa thông thường, mà là nguy cơ quỹ đất công nghiệp bị khóa vào các mô hình sản xuất công nghệ thấp, phát thải cao, giá trị gia tăng thấp.
Phát sinh nhiều hệ lụy
Theo đánh giá của Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội, nguyên nhân của thực trạng nói trên là do trong một giai đoạn dài trước đây, mục tiêu “lấp đầy đất công nghiệp” và tạo công ăn việc làm cho người lao động thường được đặt cao hơn mục tiêu “lấp đầy bằng công nghệ và giá trị”. Hiểu một cách đơn giản là các KCN trước kia mới chỉ chú trọng “số lượng”, thu hút với mục tiêu có doanh nghiệp/dự án để đạt tỷ lệ lấp đầy cao.
Bên cạnh đó, ở các giai đoạn trước, công cụ kiểm soát sau đầu tư, sau cấp phép còn yếu: điều kiện gia hạn đất, điều kiện tiếp tục hoạt động của cơ sở phát thải cao, quy trình kiểm tra – xử lý còn thiếu tính liên thông và tính răn đe. Hạ tầng môi trường của một số KCN hình thành sớm (nhất là các KCN được nâng cấp từ Cụm công nghiệp) vốn được thiết kế theo chuẩn cũ; trong khi yêu cầu mới về quan trắc, xử lý đạt chuẩn hiện nay ngày càng cao và chặt chẽ hơn.
Nếu kéo dài tình trạng trên, có thể sẽ đem đến nhiều hệ lụy trực tiếp và có thể đo đếm. Đó là nguy cơ gia tăng các rủi ro về môi trường; chi phí tuân thủ của doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc bị đội lên; niềm tin nhà đầu tư suy giảm; năng lực cạnh tranh thu hút dự án công nghệ cao bị ảnh hưởng; quỹ đất công nghiệp bị “khóa” vào mô hình tăng trưởng cũ.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó Trưởng Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội nhấn mạnh rằng: thực tế này đang đặt ra yêu cầu tái cấu trúc mô hình phát triển KCN, không thể tiếp tục đánh giá thành công chỉ bằng tỷ lệ lấp đầy, mà phải đánh giá bằng chất lượng công nghệ, hiệu quả đất, hiệu quả ngân sách và mức độ tuân thủ môi trường.


