Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Nâng hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp lên tối đa 95% từ 20/10/2026

Nghị định số 346/2026/NĐ-CP mở rộng đối tượng được hỗ trợ, nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp và trao quyền cho địa phương quyết định chính sách phù hợp với điều kiện sản xuất, ngân sách.

Nâng hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp lên tối đa 95% từ 20/10/2026

Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp.

Ngày 5/9/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 346/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp. Văn bản có hiệu lực từ ngày 20/10/2026, với những thay đổi tập trung vào mức hỗ trợ phí, phạm vi đối tượng bảo hiểm, sản

Mức hỗ trợ tăng, phạm vi bảo hiểm được mở rộng

Theo quy định mới, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng so với mức 90% hiện hành. Đối với cá nhân không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, mức hỗ trợ tối đa tăng từ 20% lên 50%.

Tổ chức sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện được hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm, cao hơn 10 điểm phần trăm so với quy định thời điểm hiện tại. Nhóm này bao gồm doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã đáp ứng các điều kiện về liên kết sản xuất, chất lượng sản phẩm hoặc ứng dụng công nghệ cao theo quy định.

Ví dụ, với một hợp đồng có phí bảo hiểm 1 triệu đồng, nếu được áp dụng mức hỗ trợ tối đa, cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo chỉ phải đóng 50.000 đồng; cá nhân sản xuất nông nghiệp thông thường đóng 500.000 đồng.

Bên cạnh việc tăng mức hỗ trợ, Nghị định số 346/2026/NĐ-CP mở rộng phạm vi đối tượng bảo hiểm được hưởng chính sách. Ngoài các loại cây trồng, vật nuôi và thủy sản đã được quy định như lúa, cao su, cà phê, trâu, bò, lợn, gia cầm, tôm và cá tra, nghị định bổ sung các đối tượng khác thuộc danh mục cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây lâm nghiệp chính, chủ lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương công bố.

Việc bổ sung này tạo cơ sở để các tỉnh, thành phố lựa chọn những đối tượng phù hợp với đặc thù sản xuất của địa phương, thay vì chỉ triển khai trong phạm vi các loại nông sản được liệt kê trước đây.

Đa dạng cách bồi thường, địa phương chủ động triển khai

Một nội dung khác của Nghị định 346 là sửa đổi quy định về các loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. Các sản phẩm được xác định gồm bảo hiểm rủi ro định danh, bảo hiểm mọi rủi ro, bảo hiểm tổn thất về thu nhập, bảo hiểm theo chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết, chỉ số viễn thám và các loại hình khác theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Đối với bảo hiểm rủi ro định danh, mọi rủi ro và tổn thất về thu nhập, việc bồi thường được xác định trên cơ sở tổn thất thực tế hoặc chi phí sản xuất theo thỏa thuận. Trong khi đó, bảo hiểm theo chỉ số được chi trả dựa trên biến động của chỉ số đã thống nhất trong hợp đồng, không phụ thuộc vào thiệt hại thực tế của từng đối tượng bảo hiểm.

Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm theo chỉ số thời tiết có thể quy định mức chi trả khi lượng mưa, hạn hán hoặc ngập lụt đạt một ngưỡng nhất định. Khi chỉ số đáp ứng điều kiện bảo hiểm, doanh nghiệp thực hiện bồi thường theo phương pháp đã thỏa thuận. Cách tiếp cận này tạo thêm lựa chọn cho người sản xuất và doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thiết kế sản phẩm phù hợp với từng loại rủi ro.

Nghị định cũng bổ sung quy định về nguồn cung cấp chỉ số thời tiết và viễn thám. Các bên có thể lựa chọn dữ liệu từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, hệ thống thông tin dịch vụ khí hậu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), Trung tâm Giám sát nông nghiệp, tài nguyên và môi trường hoặc các nguồn dữ liệu khác đáp ứng điều kiện về độ tin cậy, được nhà tái bảo hiểm quốc tế xác nhận hoặc chấp thuận và được quy định rõ trong hợp đồng.

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giải thích cho bên mua cách xác định tổn thất thực tế hoặc phương pháp tính số tiền bồi thường, tùy theo loại hình sản phẩm. Quy định này nhằm bảo đảm người tham gia hiểu rõ căn cứ chi trả và quyền lợi theo hợp đồng.

Về tổ chức thực hiện, Nghị định 346 phân cấp cho HĐND cấp tỉnh quyết định địa bàn, đối tượng bảo hiểm, loại rủi ro, mức hỗ trợ và thời gian thực hiện chính sách. Việc quyết định phải căn cứ vào các quy định của Chính phủ, tình hình thực tế và khả năng cân đối ngân sách địa phương.

Chính sách hỗ trợ có thể được triển khai trên toàn bộ địa bàn tỉnh, thành phố hoặc tại một số địa bàn cấp xã. Sau khi ban hành quyết định, HĐND cấp tỉnh công bố công khai và thông báo cho Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng UBND cấp xã thuộc diện hỗ trợ. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo, UBND cấp xã tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp.

Theo quy định chuyển tiếp, các hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp đã giao kết trước ngày 20/10/2026 và còn hiệu lực tiếp tục được thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận, trừ trường hợp các bên thống nhất sửa đổi, bổ sung hợp đồng theo quy định mới.

Tuấn Thủy

Tin liên quan

Video