Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Ưu đãi thêm cho tiền gửi, USD giữ vùng cao cuối tuần

Lãi suất huy động tiếp tục neo cao khi một số chương trình ưu đãi đưa mức thực nhận lên 9,4%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.596 VND/USD, còn chỉ số DXY duy trì quanh 99,1 điểm.

lãi suất
Nhiều ngân hàng tung ra chương trình ưu đãi, cộng thêm lãi suất.

Lãi suất huy động kỳ hạn dài tiếp tục neo cao

Mặt bằng lãi suất huy động ngày 12/9/2026 tiếp tục duy trì ở vùng cao, đặc biệt tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Khảo sát biểu lãi suất cho thấy mức chênh lệch giữa các ngân hàng vẫn khá lớn, trong khi nhiều chương trình cộng thêm lãi suất đang đẩy mức thực nhận lên cao hơn đáng kể so với niêm yết thông thường.

Tại kỳ hạn 3 tháng, phần lớn mức cao nhất tập trung quanh 4,75%/năm. Nam A Bank và Vikki Bank niêm yết 4,7%/năm, LPBank và SHB cùng ở mức 4,65%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh có mức thấp hơn, với BIDV 4,75%/năm, Agribank 2,9%/năm, VietinBank và Vietcombank cùng 2,4%/năm.

Ở kỳ hạn 6 tháng, Cake by VPBank nổi bật với mức lãi suất sau ưu đãi có thể lên tới 9,2%/năm. Mức niêm yết lĩnh lãi cuối kỳ của Cake là 7,2%/năm đối với kỳ hạn 6-9 tháng. Từ ngày 1/9 đến hết ngày 30/9/2026, chương trình cộng thêm 2%/năm có thể đưa lãi suất thực nhận của khách hàng đủ điều kiện lên 9,2%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, Cake by VPBank niêm yết 7,4%/năm khi lĩnh lãi cuối kỳ. Với khách hàng đủ điều kiện hưởng ưu đãi cộng thêm 2%/năm, tổng lãi suất có thể đạt 9,4%/năm. Trong nhóm lãi suất niêm yết cao còn có Sacombank 7,5%/năm, LPBank và SaigonBank cùng 7,2%/năm, BAC A BANK 7,1%/năm; VCBNeo, MBV, PGBank và VIB cùng ở mức 7%/năm.

VPBank cũng đang triển khai nhiều chương trình cộng thêm lãi suất. Hội viên VPBank Prime có thể nhận eVoucher cộng thêm 1%/năm hoặc 1,6%/năm cho các khoản tiết kiệm trực tuyến đủ điều kiện trên VPBank NEO.

Một chương trình khác của VPBank là cộng thêm tới 2,5%/năm cho khoản tiền gửi từ 1 triệu đồng đến 300 triệu đồng, kỳ hạn 1-24 tháng, áp dụng với khách hàng thuộc danh sách đủ điều kiện. Lãi suất sau ưu đãi có thể đạt 8,7%/năm ở kỳ hạn 6-13 tháng và 8,5%/năm ở kỳ hạn 15-24 tháng.

Theo báo cáo vĩ mô của Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS), mặt bằng lãi suất huy động có khả năng tiếp tục duy trì quanh vùng hiện tại.

Các chuyên gia VCBS nhận định, các ngân hàng vẫn cần duy trì nguồn vốn ổn định khi nhu cầu tín dụng tăng tốc về cuối năm, trong khi yêu cầu cân đối thanh khoản tiếp tục tạo áp lực lên huy động vốn. Đáng chú ý, cạnh tranh huy động tập trung nhiều hơn tại nhóm kỳ hạn 6-12 và 13 tháng.

Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng cho rằng, lãi suất có thể tiến tới vùng đỉnh nhưng khó giảm nhanh. Chênh lệch giữa tín dụng và tiền gửi duy trì ở mức cao đang gây áp lực lên thanh khoản hệ thống. Dù các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước giúp giảm bớt sức ép ngắn hạn, nhu cầu vốn trung và dài hạn vẫn khiến lãi suất huy động ở các kỳ hạn dài khó giảm đáng kể.

* Lãi suất nêu trên là mức niêm yết và ưu đãi tham khảo tại thời điểm khảo sát, có thể thay đổi tùy theo hình thức gửi tiền, số tiền gửi và điều kiện áp dụng của từng ngân hàng.

lãi suất
Nguồn: VCBS

Lãi suất cho vay phân hóa

Ở chiều cho vay, mặt bằng lãi suất bình quân giữa các ngân hàng tiếp tục có sự phân hóa. Theo đó, VietinBank ở mức 5,42%/năm, BIDV 5,52%/năm, Vietcombank 5,6%/năm và Agribank 6,6%/năm.

Tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, VIB ghi nhận mức 6,32%/năm, ACB 6,46%/năm, Techcombank 6,78%/năm, Sacombank 6,87%/năm, TPBank 7,53%/năm và OCB 7,73%/năm.

Các mức bình quân này không đồng nghĩa với lãi suất áp dụng cho mọi khoản vay, bởi chi phí thực tế còn phụ thuộc sản phẩm, kỳ hạn, hồ sơ tín dụng, tài sản bảo đảm và chính sách của từng ngân hàng.

Theo VDSC, dư địa để lãi suất cho vay giảm thêm đang bị hạn chế bởi áp lực thanh khoản và chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng với tiền gửi. Công ty chứng khoán này nhận định, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất có khả năng lập đỉnh từ nay đến cuối năm 2026, nhưng việc giảm mạnh trong ngắn hạn là khó xảy ra.

Tỷ giá trung tâm giảm 15 đồng trong tuần, DXY giữ quanh 99,1 điểm

lãi suất

Nguồn số liệu:

Ngày 12/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.596 VND/USD, không thay đổi so với ngày 11/9. Với biên độ +/-5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng được phép giao dịch trong khoảng 24.316 - 26.876 VND/USD.

Tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối được công bố gần nhất ở mức 24.367 - 26.825 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tại các ngân hàng thương mại, số liệu gần nhất cho thấy Vietcombank giao dịch USD ở mức 25.710 - 26.120 VND/USD (mua vào - bán ra); BIDV ở mức 25.740 - 26.120 VND/USD; VietinBank 25.677 - 26.122 VND/USD; Techcombank 25.728 - 26.128 VND/USD; Sacombank 25.720 - 26.120 VND/USD; ACB 25.710 - 26.100 VND/USD và LPBank 25.705 - 26.120 VND/USD.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY ở mức khoảng 99,094 điểm, gần như đi ngang trong phiên gần nhất nhưng vẫn duy trì quanh vùng cao của tuần.

Đồng USD nhận được hỗ trợ sau khi số liệu lạm phát Mỹ củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ. CPI Mỹ tháng 8 tăng 0,4% so với tháng trước, trong khi lạm phát cơ bản tăng 2,4% so với cùng kỳ. Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường định giá khoảng 86% khả năng Fed tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm tại cuộc họp tới, tăng mạnh so với khoảng 72% một ngày trước.

Áp lực còn đến từ thị trường năng lượng và trái phiếu. Giá Brent dù chốt phiên gần nhất giảm 2,81% xuống 104,61 USD/thùng nhưng vẫn tăng khoảng 8% trong tuần. Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 2 năm tăng lên 4,63%, phản ánh kỳ vọng lãi suất của Fed tiếp tục ở mức cao.

Tỷ giá tính chéo của VND với một số ngoại tệ để xác định trị giá tính thuế, có hiệu lực từ ngày 10/9 đến ngày 16/9/2026, được Ngân hàng Nhà nước công bố với EUR ở mức 29.765,82 VND/EUR; JPY 166,84 VND/JPY; GBP 34.667,07 VND/GBP; CHF 31.648,32 VND/CHF; AUD 18.486,55 VND/AUD và CAD 18.582,73 VND/CAD.

Một số đồng tiền châu Á có tỷ giá tính chéo gồm CNY ở mức 3.815,90 VND/CNY, SGD 20.240,41 VND/SGD, KRW 19,13 VND/KRW, THB 778,64 VND/THB và MYR 6.291,54 VND/MYR.

Tỷ giá tuần này giảm nhẹ, áp lực bên ngoài chưa hết

Nhìn lại tuần giao dịch, tỷ giá trung tâm có xu hướng hạ nhiệt. Từ mức 25.611 VND/USD ngày 7/9, tỷ giá giảm xuống 25.603 VND/USD ngày 8/9, 25.594 VND/USD ngày 9/9 và 25.591 VND/USD ngày 10/9, trước khi nhích lên 25.596 VND/USD ngày 11/9 và giữ nguyên trong ngày 12/9. Như vậy, so với đầu tuần, tỷ giá trung tâm đã giảm 15 đồng.

Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trong nước vẫn được kiểm soát dù môi trường quốc tế trở nên kém thuận lợi hơn vào cuối tuần. DXY quay lại quanh 99,1 điểm, giá dầu duy trì trên 100 USD/thùng và khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 9 được thị trường định giá cao hơn đều là những yếu tố có thể gây sức ép lên VND trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, VCBS đánh giá, thị trường ngoại hối vẫn tương đối ổn định và dự báo mức mất giá của VND trong cả năm 2026 khoảng 1-1,5%. Theo VCBS, nhu cầu đầu cơ USD đã giảm mạnh, trong khi nguồn cung ngoại tệ tiếp tục được hỗ trợ, đặc biệt từ dòng vốn FDI. Trong kịch bản Fed tăng 25 điểm cơ bản, chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn được kỳ vọng duy trì ở mức dương.

Hương Dịu

Tin liên quan

Video