|
| Khung pháp lý chung cho thị trường carbon ở Việt Nam đã tương đối đầy đủ để sẵn sàng vận hành thị trường. |
Xác định lộ trình vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon trong giai đoạn 2026-2027
Thị trường carbon không chỉ đơn thuần là một công cụ môi trường mà còn là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với các tiêu chuẩn xanh mới của thương mại toàn cầu. Bằng cách định giá carbon, Nhà nước tạo ra động lực kinh tế trực tiếp, trong đó những doanh nghiệp giảm phát thải hiệu quả có thể bán hạn ngạch dư thừa để biến nỗ lực bảo vệ môi trường thành lợi nhuận thực tế, đồng thời thúc đẩy các cơ sở phát thải lớn đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch.
Để chuẩn bị cho cột mốc vận hành chính thức, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ và đồng bộ. Nền móng đầu tiên được đặt ra tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, lần đầu tiên quy định rõ về cơ chế thị trường carbon trong nước bao gồm hạn ngạch phát thải, tín chỉ carbon và sàn giao dịch carbon quốc gia.
Tiếp nối lộ trình này, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định chi tiết về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon. Đặc biệt, Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ban hành ngày 19/01/2026 về sàn giao dịch carbon trong nước đã tạo khung pháp lý đầy đủ cho các hoạt động đăng ký, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch.
Bên cạnh đó, Thông tư số 11/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về hệ thống đăng ký quốc gia đã hoàn thiện khía cạnh kỹ thuật, đóng vai trò là cơ sở dữ liệu trung tâm để quản lý mã định danh cho từng hạn ngạch và tín chỉ, đảm bảo tính minh bạch và ngăn ngừa tình trạng sử dụng trùng lặp.
Việt Nam xác định lộ trình vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon trong giai đoạn 2026-2027 trước khi chính thức áp dụng cơ chế tuân thủ bắt buộc từ năm 2028 và vận hành chính thức từ năm 2029. Một bước đi cụ thể là việc phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho giai đoạn 2025-2026 theo Quyết định số 263/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo Quyết định này, tổng hạn ngạch cho năm 2025 là hơn 243 triệu tấn CO2tđ và năm 2026 là hơn 268 triệu tấn CO2tđ.
Trong giai đoạn đầu, có 110 cơ sở phát thải lớn thuộc 3 lĩnh vực trọng điểm là nhiệt điện với 34 nhà máy, sản xuất sắt thép với 25 cơ sở và sản xuất xi măng với 51 cơ sở đã được lựa chọn để phân bổ hạn ngạch. Để hỗ trợ doanh nghiệp làm quen với cơ chế mới, hạn ngạch trong giai đoạn thí điểm sẽ được phân bổ hoàn toàn miễn phí, giúp giảm áp lực chi phí ban đầu cho các đơn vị sản xuất.
Mở ra tiềm năng huy động nguồn lực tài chính cho chuyển dịch xanh
Mô hình thị trường carbon của Việt Nam được thiết kế tích hợp với hạ tầng tài chính hiện có, trong đó Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội tổ chức vận hành hệ thống giao dịch và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam thực hiện chức năng lưu ký, thanh toán. Hàng hóa giao dịch trên sàn bao gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và các tín chỉ carbon đủ điều kiện.
Doanh nghiệp tham gia thị trường có sự linh hoạt cao trong việc thực hiện nghĩa vụ tuân thủ thông qua việc nộp trả hạn ngạch dựa trên kết quả kiểm kê thực tế. Cụ thể, cơ sở có thể vay mượn tối đa 15% lượng hạn ngạch của giai đoạn kế tiếp hoặc sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ nhưng không vượt quá 30% tổng hạn ngạch được phân bổ. Ngoài ra, lượng hạn ngạch chưa sử dụng hết của giai đoạn hiện tại có thể được chuyển giao sang giai đoạn tiếp theo, giúp doanh nghiệp chủ động trong quản trị rủi ro carbon.
Phát triển thị trường carbon mở ra tiềm năng huy động nguồn lực tài chính khổng lồ cho chuyển dịch xanh tại Việt Nam. Nghiên cứu ước tính việc vận hành thị trường trong nước có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ từ 400 đến 800 triệu USD, tạo nguồn vốn tái đầu tư vào công nghệ giảm phát thải. Ở tầm vĩ mô, đây là một cơ chế phát triển kinh tế mới có thể mang lại nguồn thu hàng tỷ USD mỗi năm nếu được tổ chức tốt.
Nhằm mở cửa ra thị trường toàn cầu, Nghị định số 112/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 19/5/2026 đã thiết lập khung pháp lý cho việc trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải theo Thỏa thuận Paris. Nghị định quy định mức trần chuyển giao tín chỉ ra nước ngoài lên tới 90% đối với các công nghệ mới như hydrogen xanh, amoniac xanh, điện gió ngoài khơi và công nghệ thu hồi carbon. Đối với các dự án như nhiệt điện khí LNG hoặc điện sinh khối, tỷ lệ chuyển giao tối đa được quy định ở mức 50% nhằm đảm bảo mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
Mặc dù triển vọng rất tích cực, việc vận hành thị trường carbon vẫn đối mặt với nhiều rào cản về năng lực kiểm kê và quản lý dữ liệu phát thải. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong số hơn 2.000 cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính vẫn chưa nắm rõ quy định hoặc thiếu kinh nghiệm trong việc báo cáo dữ liệu theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, với sự chuẩn bị bài bản về hành lang pháp lý và hạ tầng kỹ thuật, thị trường carbon hứa hẹn trở thành động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero và nâng cao năng lực cạnh tranh.


