![]() |
| Lãi suất hôm nay: Ngân hàng cộng thêm tới 2,2%/năm, tiền gửi 6 tháng lên 8% |
Thị trường lãi suất huy động tiếp tục xuất hiện những chương trình cộng thêm lãi suất đáng chú ý. MB đang triển khai chương trình “Cuối tuần lộc lá”, cộng thêm 2 điểm phần trăm lãi suất cho khách hàng cá nhân gửi tiền trực tuyến vào thứ Bảy và Chủ nhật trên ứng dụng MBBank.
Chương trình áp dụng với sản phẩm tiền gửi số cố định trả lãi cuối kỳ, kỳ hạn 1 - 6 tháng và số tiền gửi tối thiểu 20 triệu đồng. Lãi suất sau ưu đãi tối đa 7,8%/năm và chương trình kéo dài đến hết tháng 8/2026.
Đáng chú ý, MB trước đó còn có chính sách cộng thêm tới 2,2 điểm phần trăm trong tháng 8 đối với khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu, qua đó đưa lãi suất thực tế kỳ hạn 6 tháng có thể lên tới 8%/năm.
Như vậy, thay vì nâng đồng loạt biểu lãi suất huy động, các chương trình cộng thêm đang tạo ra khoảng cách khá lớn giữa mức lãi suất niêm yết thông thường và mức khách hàng thực tế có thể nhận khi đáp ứng điều kiện.
Theo bảng lãi suất tiền gửi tại quầy được cập nhật trong tháng 8/2026, MB niêm yết 3,7%/năm ở kỳ hạn 1 tháng, 4,1%/năm kỳ hạn 3 tháng, 4,6%/năm kỳ hạn 6 tháng và 6,2%/năm ở kỳ hạn 12 - 18 tháng. Kỳ hạn 24 - 36 tháng có thể đạt 7%/năm.
Nếu chỉ xét lãi suất gửi tiết kiệm tại quầy, trả lãi cuối kỳ và không bao gồm chương trình ưu đãi hoặc điều kiện đặc biệt, khoảng cách giữa các ngân hàng hiện khá lớn.
Ở kỳ hạn 6 tháng, Bac A Bank thuộc nhóm dẫn đầu với 7,05%/năm. PGBank niêm yết 6,6%/năm; BVBank 6,45%/năm; LPBank và OCB cùng ở mức 6,4%/năm; MSB 6,1%/năm.
Một số ngân hàng khác có lãi suất 6 tháng thấp hơn, như SHB và VietABank cùng 5,8%/năm; BAOVIET Bank và VIB cùng 5,5%/năm; KienlongBank 5,3%/năm; HDBank 4,9%/năm; Eximbank 4,7%/năm.
Ở nhóm ngân hàng lớn, Agribank áp dụng lãi suất 4%/năm tại kỳ hạn 6 tháng, trong khi BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng ở mức 3,5%/năm.
![]() |
Riêng ở kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất tại quầy trong các bảng khảo sát cũng có sự phân hóa rõ. Shinhan Bank đạt 7,5%/năm, Bac A Bank 7,1%/năm; PGBank và OCB cùng 6,7%/năm; LPBank 6,6%/năm; MSB và VIB cùng 6,5%/năm.
BVBank ở mức 6,65%/năm, trong khi MB và SHB cùng niêm yết 6,2%/năm; VPBank 6,1%/năm. BIDV, Vietcombank, VietinBank và Agribank cùng ở mức 5,9%/năm...
Ở nhóm lãi suất cao, SCB mới đây nâng lãi suất sản phẩm “Tiền gửi thông thường 13 tháng” từ 3,9%/năm lên 8,7%/năm. Mức tăng lên tới 4,8 điểm phần trăm sau một lần điều chỉnh.
Tuy nhiên, mức 8,7%/năm chỉ áp dụng cho sản phẩm tiền gửi thông thường 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ. Biểu lãi suất thông thường còn lại của SCB vẫn thấp, với kỳ hạn 1 - 2 tháng ở mức 1,6%/năm; 3 - 5 tháng 1,9%/năm; 6 - 11 tháng 2,9%/năm và 12 tháng 3,7%/năm.
Một số mức lãi suất cao hơn còn đi kèm điều kiện về số tiền gửi rất lớn. PVcomBank có mức 10%/năm cho kỳ hạn 12 - 13 tháng nhưng yêu cầu số tiền gửi từ 2.000 tỷ đồng. MSB có mức 9%/năm cho kỳ hạn 12 - 13 tháng với điều kiện số dư tối thiểu từ 500 tỷ đồng và các yêu cầu đối với sổ tiết kiệm.
Nam A Bank cũng có mức tới 8,3%/năm cho kỳ hạn 24 tháng với khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng; kỳ hạn 36 tháng có thể đạt 8,1%/năm sau khi đáp ứng điều kiện phê duyệt.
Ở nhóm có điều kiện dễ tiếp cận hơn, Cake by VPBank niêm yết lãi suất lĩnh lãi cuối kỳ 7,2%/năm cho kỳ hạn 6 - 9 tháng và 7,4%/năm đối với kỳ hạn 10 - 24 tháng.
Diễn biến mới cho thấy cuộc cạnh tranh huy động hiện không chỉ nằm ở biểu lãi suất niêm yết. Các ngân hàng đang sử dụng nhiều chương trình cộng thêm theo khách hàng, số tiền, kênh gửi và thời điểm gửi, khiến lãi suất thực nhận có thể cao hơn đáng kể so với mức công bố thông thường.
* Lãi suất được tổng hợp từ biểu niêm yết và các chương trình ưu đãi; mức áp dụng thực tế phụ thuộc sản phẩm, kênh gửi, số tiền và điều kiện của từng ngân hàng.




