Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Luật hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14: Minh bạch quyền xử lý nợ xấu, củng cố an toàn tài chính

Trong nhiều năm, Nghị quyết số 42/2017/QH14 thường được nhìn nhận là công cụ hỗ trợ ngân hàng đẩy nhanh quá trình xử lý tài sản bảo đảm và thu hồi nợ xấu. Tuy nhiên, xét trên phạm vi rộng hơn, việc luật hóa nghị quyết này không nhằm mở rộng quyền của tổ chức tín dụng, mà hướng tới thiết lập kỷ luật tín dụng chặt chẽ hơn, qua đó nâng cao mức độ an toàn của toàn hệ thống tài chính.

nợ xấu ngân hàng

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà trao đổi thông tin tại họp báo. Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Quyền thu giữ tài sản góp phần củng cố kỷ luật tín dụng

Kết quả triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 trong giai đoạn 2017 - 2023 cho thấy giá trị pháp lý lớn nhất không nằm ở số lượng tài sản được thu hồi, mà thể hiện qua sự thay đổi trong hành vi của bên vay.

Trong hơn 6 năm Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý khoảng 445.000 tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, khách hàng chủ động trả nợ khoảng 161.000 tỷ đồng; giá trị nợ được xử lý thông qua tài sản bảo đảm đạt khoảng 93.000 tỷ đồng, chiếm hơn 20% tổng số nợ đã xử lý. Chỉ khoảng 10% số tài sản bảo đảm do ngân hàng trực tiếp thu giữ và xử lý theo đúng trình tự pháp luật.

Theo số liệu tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ khách hàng tự nguyện trả nợ tăng từ khoảng 20% trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực lên 36% trong thời gian áp dụng. Số liệu này cho thấy, tác động lớn nhất của cơ chế xử lý nợ không nằm ở số lượng tài sản được ngân hàng thu giữ, mà ở việc hình thành khuôn khổ pháp lý rõ ràng, thúc đẩy bên vay chủ động thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Khi các bên nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ, quá trình xử lý nợ có thể được giải quyết thông qua thương lượng và hợp tác, thay vì phải áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật. Cách thức này góp phần rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho ngân hàng và khách hàng, đồng thời đưa nguồn vốn quay trở lại nền kinh tế nhanh hơn.

Nợ xấu là bài toán của cả nền kinh tế

Ở góc độ vĩ mô, xử lý nợ xấu từ lâu không còn là vấn đề riêng của ngành ngân hàng. Khi các khoản nợ không được xử lý kịp thời, nguồn vốn bị “đóng băng”, ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng. Điều này làm giảm nguồn lực dành cho tín dụng mới và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 hết hiệu lực, áp lực nợ xấu trở nên rõ nét hơn. Đến cuối năm 2024, tổng nợ xấu của hệ thống đã vượt 1 triệu tỷ đồng. Trong hai tháng đầu năm 2025, nợ xấu tiếp tục tăng thêm khoảng 34.000 tỷ đồng.

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026 do Văn phòng Chính phủ tổ chức chiều 3/8, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt hơn 20,15 triệu tỷ đồng.

nợ xấu ngân hàng
Trong hơn 6 năm Nghị quyết 42 có hiệu lực, chỉ khoảng 10% số tài sản bảo đảm do ngân hàng trực tiếp thu giữ và xử lý.

Với quy mô trên, nếu tỷ lệ nợ xấu tăng thêm 1%, hệ thống sẽ phải xử lý thêm hơn 200.000 tỷ đồng. Như vậy, mỗi biến động của tỷ lệ nợ xấu đều có thể tạo ra ảnh hưởng lớn đối với dòng vốn trong nền kinh tế.

Trong khi đó, quá trình xử lý nợ hiện vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ghi nhận gần 220 vụ tranh chấp tín dụng, ngân hàng tồn đọng tại TP.HCM, chủ yếu liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, thủ tục tố tụng và thi hành án. Những vướng mắc này khiến quá trình thu hồi nợ kéo dài, làm giảm hiệu quả luân chuyển vốn và gia tăng chi phí xử lý cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.

Cân bằng quyền chủ nợ và lợi ích của bên vay

Việc luật hóa cơ chế thu giữ tài sản bảo đảm với điều kiện, trình tự và phạm vi áp dụng rõ ràng được xem là bước tháo gỡ quan trọng cho cả bên vay và bên cho vay.

Chuyên gia xử lý tài sản bảo đảm của VPBank, ngân hàng có tỷ lệ cho vay thế chấp đạt 91,1% vào cuối tháng 6/2026, cho biết: “Với ngân hàng, đây là cơ sở để quyền xử lý tài sản bảo đảm không còn chỉ tồn tại trên hợp đồng, mà có thể được thực thi trên thực tế khi nghĩa vụ trả nợ bị vi phạm. Với bên vay, việc luật hóa đồng thời tạo ra một khuôn khổ minh bạch hơn để biết rõ trong trường hợp nào tài sản có thể bị thu giữ, thời hạn thông báo ra sao và những quyền khiếu nại, khởi kiện hoặc tự bảo vệ nào vẫn được bảo đảm”.

Theo cơ chế mới, ngân hàng không được tùy ý thu giữ tài sản. Quyền này chỉ được thực hiện khi khoản nợ và tài sản bảo đảm đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật; hợp đồng có thỏa thuận rõ ràng; tài sản không thuộc diện tranh chấp hoặc bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Tổ chức tín dụng cũng phải công khai thông tin trước khi tiến hành thu giữ. Chính quyền địa phương và cơ quan công an tham gia nhằm bảo đảm an ninh, trật tự và giám sát quá trình thực hiện.

Khi khuôn khổ pháp lý được quy định rõ ràng, bên vay có thêm động lực chủ động thương lượng. Bên cho vay có thể rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí tố tụng và hạn chế tình trạng tài sản xuống cấp trong quá trình chờ đợi.

Theo đó, luật hóa cơ chế thu giữ tài sản bảo đảm vừa hỗ trợ xử lý nhanh các khoản nợ đã phát sinh, vừa góp phần phòng ngừa nợ xấu, củng cố kỷ luật tín dụng và giảm thiểu tổn thất cho các bên liên quan.

Tuấn Thủy
Thích

Tin liên quan