![]() |
| Chương trình hành động của Đảng bộ Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt trọng tâm huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn lực, tạo nền tảng phát triển kinh tế biển nhanh, bền vững. |
Sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính cho không gian kinh tế biển mới
Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị, Đảng ủy Bộ Tài chính ban hành Chương trình hành động số 15-CTr/ĐU ngày 21/8/2026.
Chương trình nhằm cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn và định hướng phát triển của Trung ương, đồng thời gắn với chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và tạo thêm động lực cho không gian kinh tế biển.
Không tiếp cận kinh tế biển đơn thuần từ khai thác tài nguyên, Chương trình hướng tới xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại, đa ngành, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Tài chính được xác định là công cụ quan trọng để tạo nguồn lực cho hạ tầng, năng lượng, logistics, đô thị, dịch vụ và những ngành kinh tế biển mới.
Đảng bộ Bộ Tài chính xác định chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% trong tổng GDP cả nước; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hằng năm của các địa phương ven biển trên 11%; thu nhập bình quân đầu người các địa phương này cao hơn bình quân cả nước từ 1,2-1,3 lần.
Cùng với đó, phấn đấu chi phí logistics dưới 12% GDP; hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh và 3 khu kinh tế đặc biệt. Đây là những chỉ tiêu có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, khi chi phí logistics thấp hơn sẽ giúp giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa và nâng khả năng kết nối của doanh nghiệp Việt Nam với thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, Chương trình đặt mục tiêu hình thành chuỗi công nghiệp và dịch vụ đồng bộ từ sản xuất, thiết kế, thi công, lắp đặt đến vận hành, bảo trì hạ tầng cáp ngầm biển dung lượng lớn, tốc độ cao và siêu tốc; phát triển các trung tâm dữ liệu nhằm khai thác hiệu quả tuyến cáp biển. Việc đầu tư đồng bộ, các chuỗi công nghiệp và dịch vụ không chỉ tạo giá trị trực tiếp cho kinh tế biển mà còn hình thành nền tảng hạ tầng cho nhiều ngành kinh tế khác.
Yêu cầu phát triển bền vững được đặt song hành với mục tiêu tăng trưởng. Chương trình đặt mục tiêu 100% các khu công nghiệp, khu đô thị và cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; chỉ số phát triển con người của các tỉnh, thành phố ven biển phải cao hơn mức trung bình cả nước.
Đối với các đảo có dân cư sinh sống, chương trình đặt mục tiêu 100% cư dân được tiếp cận điện, nước sạch, Internet băng rộng và dịch vụ y tế, giáo dục.
Với những chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể, hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế biển không chỉ được đo bằng quy mô đầu tư hay tốc độ tăng trưởng, đó còn bằng chất lượng sống và mức độ thụ hưởng của người dân.
Mở rộng động lực tăng trưởng từ năng lượng, logistics đến kinh tế biển mới
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chương trình hành động xác định nhiều nhiệm vụ, đề án, dự án quan trọng do Bộ Tài chính chủ trì. Trước hết là xây dựng và thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo tiền tiêu trong giai đoạn 2026-2030.
Song song với đó, trong giai đoạn 2026-2030 hoàn thiện cơ chế huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh. Đây là nhiệm vụ có tính nền tảng, bởi quy mô đầu tư cho hạ tầng biển, năng lượng, cảng biển, logistics và các ngành kinh tế mới rất lớn, trong khi nguồn lực ngân sách cần được sử dụng đúng mục tiêu, nhiệm vụ và tạo hiệu ứng lan tỏa.
![]() |
| Hoàn thiện cơ chế huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh. |
Trong năm 2026, Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đề án thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đa quốc gia, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ là cơ chế quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ, vốn, quản trị và thị trường, đồng thời nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.
Giai đoạn 2026-2030, chương trình tập trung phát triển hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại, chú trọng không gian kinh tế trong phạm vi 12 hải lý. Cùng với đó là phát triển năng lượng tái tạo, ưu tiên điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển và chuyển đổi năng lượng tại các vùng ven biển.
Đây là hướng đi có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và yêu cầu chuyển dịch sang mô hình phát triển xanh ngày càng rõ nét. Việc khai thác hiệu quả tiềm năng điện gió ngoài khơi không chỉ bổ sung nguồn điện mà còn có thể tạo ra chuỗi ngành công nghiệp mới liên quan đến thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo trì.
Đồng thời, Chương trình cũng xác định phát triển các ngành kinh tế biển mới như nuôi biển công nghệ cao, y - dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen và amoniac xanh. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng tạo giá trị gia tăng lớn. Tuy nhiên đây là những ngành kinh tế đòi hỏi vốn đầu tư dài hạn, công nghệ cao và cơ chế chính sách đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp.
Bên cạnh năng lượng và công nghệ, các khu đô thị, khu kinh tế, trung tâm công nghiệp, dịch vụ và logistics ven biển được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, đa ngành, đa chức năng. Việc kết nối giữa các trung tâm với mạng lưới giao thông, cảng biển và chuỗi cung ứng sẽ tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới, tăng khả năng liên kết giữa kinh tế biển với kinh tế đất liền.
Bộ Tài chính đồng thời sẽ xây dựng hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá phát triển quốc gia biển mạnh trong giai đoạn 2026-2027, làm cơ sở đánh giá thực chất kết quả chỉ đạo, điều hành của các bộ, ngành, địa phương và trách nhiệm của người đứng đầu.
Để bảo đảm chương trình không dừng ở định hướng, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tài chính được giao thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ và giải pháp, kịp thời cụ thể hóa những chủ trương mới của Trung ương, Chính phủ và Đảng ủy cấp trên. Các đơn vị được giao chủ trì các nhiệm vụ phải chủ động báo cáo những nhiệm vụ chậm tiến độ hoặc thiếu nguồn lực để xử lý.
Đảng ủy Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị định kỳ hằng năm tổng hợp báo cáo, đồng thời tham mưu tổng kết vào cuối nhiệm kỳ. Kết quả thực hiện chương trình cũng được xác định là một trong những tiêu chí đánh giá, phân loại tổ chức đảng, đảng viên và bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm.
Xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực và trách nhiệm, Chương trình hành động của Đảng bộ Bộ Tài chính đang tạo nền tảng để huy động nguồn lực tài chính, mở rộng dư địa phát triển quốc gia biển mạnh. Khi nguồn lực được phân bổ đúng trọng tâm cho hạ tầng, logistics, năng lượng tái tạo, công nghệ và các ngành kinh tế biển mới sẽ tạo thêm cơ sở hình thành những động lực tăng trưởng dài hạn, nâng cao sức cạnh tranh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030.




