Kinh tế số tăng nhanh nhưng chưa tạo lực kéo
Sáng 24/4, Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026: Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới”, đồng thời công bố Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025.

Họp báo công bố Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025. Ảnh: Nguyễn Hạnh
Trình bày báo cáo, GS.TS Tô Trung Thành, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, kinh tế số cần được hiểu là quá trình phát triển mô hình kinh tế dựa trên dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo, đồng thời là quá trình tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế trong kỷ nguyên số.
Báo cáo năm nay tiếp cận theo góc nhìn cấu trúc, qua đó lượng hóa rõ hơn tác động của kinh tế số tới tăng trưởng, việc làm, thu nhập và các ngành kinh tế. Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu sử dụng bảng cân đối liên ngành (IO) cập nhật mới nhất, kết hợp phân tích vĩ mô, ngành và vi mô ở cấp doanh nghiệp.
Theo đánh giá, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng 8,02%, quy mô ước đạt 515 tỷ USD, đứng thứ 33 thế giới. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, tiếp tục thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực.
Động lực tăng trưởng kinh tế chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp, đặc biệt là chế biến, chế tạo nhờ phục hồi đơn hàng xuất khẩu, cùng với sự cải thiện của dịch vụ nhờ du lịch và tiêu dùng. Tuy nhiên, các động lực này vẫn tiềm ẩn rủi ro do phụ thuộc vào diễn biến bên ngoài.
Xét theo phía cầu, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tiêu dùng và đầu tư, trong đó đầu tư tăng khoảng 12%. Tuy nhiên, cơ cấu đầu tư tiếp tục nghiêng về khu vực nhà nước, trong khi khu vực tư nhân trong nước được nhận định là động lực dài hạn còn gặp nhiều khó khăn.
Đáng lưu ý, tăng trưởng vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khi tín dụng năm 2025 tăng gần 19%, đưa quy mô tín dụng lên khoảng 150% GDP. Điều này phản ánh sự thiếu phát triển của thị trường vốn và tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định vĩ mô.
Ở góc độ chất lượng tăng trưởng, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) chuyển sang mức âm, cho thấy tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, trong khi các yếu tố dài hạn như công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nhân lực còn hạn chế.
Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% được đánh giá là rất thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại và rủi ro gia tăng. Để đạt mục tiêu này, hai động lực chính được xác định là công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, trong đó chế biến, chế tạo giữ vai trò trung tâm, còn dịch vụ chuyển dịch sang các ngành giá trị cao như tài chính, logistics và du lịch.
Tuy nhiên, báo cáo nhấn mạnh: vấn đề cốt lõi không chỉ là tăng trưởng nhanh hay chậm, mà là tăng trưởng theo mô hình nào. Trong đó, kinh tế số được xác định là lời giải trung tâm. Hiện nay, kinh tế số chiếm khoảng 14,02% GDP, tăng trưởng bình quân 10%/năm. Dù đạt kết quả tích cực, quá trình phát triển vẫn tồn tại nhiều hạn chế.
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế số mất cân đối khi khu vực lõi (ICT) chiếm tới 60% giá trị, trong khi mức độ số hóa lan tỏa sang các ngành còn thấp.
Thứ hai, phát triển không đồng đều giữa các vùng và ngành. Các trung tâm sản xuất công nghệ cao tập trung ở một số địa phương phía Bắc, trong khi các đô thị lớn giữ vai trò dịch vụ và đổi mới sáng tạo. Nhiều ngành như nông nghiệp, xây dựng, tài chính vẫn có mức độ số hóa thấp.
Thứ ba, chất lượng tăng trưởng còn hạn chế. Tỷ lệ chi phí trung gian của kinh tế số lõi lên tới 70–80%, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng chỉ khoảng 20–25%, thấp hơn đáng kể so với mức chung của nền kinh tế.
Điều này phản ánh thực tế Việt Nam chủ yếu tham gia vào các khâu gia công, lắp ráp trong chuỗi giá trị toàn cầu, trong khi các khâu có giá trị cao như thiết kế, R&D và làm chủ công nghệ còn hạn chế.
Bên cạnh đó, khả năng lan tỏa của kinh tế số tới nền kinh tế còn yếu, chưa trở thành nền tảng công nghệ chung. Đáng chú ý, hệ số lan tỏa đến nhập khẩu cao hơn nhiều so với giá trị gia tăng trong nước, cho thấy mô hình phát triển vẫn phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài.
Chuyển từ “số hóa” sang “tái cấu trúc nền kinh tế”
Từ các phân tích trên, báo cáo cho rằng điểm mấu chốt trong phát triển kinh tế số là chuyển từ tư duy “số hóa” sang “tái cấu trúc nền kinh tế dựa trên số”.

Định hướng này cần triển khai trên ba trụ cột: Phát triển kinh tế số lõi theo hướng làm chủ công nghệ; thúc đẩy số hóa và tái cấu trúc các ngành; và xây dựng hệ thống quản trị số dựa trên dữ liệu.
Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm, gồm hoàn thiện thể chế và khung pháp lý cho kinh tế số; phát triển công nghệ lõi và thu hút FDI chất lượng cao; tái cấu trúc công nghiệp để nâng tỷ lệ nội địa hóa; thúc đẩy chuyển đổi số trên diện rộng; và nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu và sự hình thành các động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số. Nếu tận dụng tốt giai đoạn này, nền kinh tế có thể bứt phá mạnh mẽ; ngược lại, nếu bỏ lỡ, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến triển vọng tăng trưởng, đặc biệt trong trung và dài hạn.
Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh hay chậm, mà là lựa chọn mô hình phát triển phù hợp cho 10 năm tới, một mô hình dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào mở rộng vốn như trước đây.
Về quy mô, kinh tế số của Việt Nam hiện chiếm khoảng 14,02% GDP, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm. Đây là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy xu hướng phát triển tích cực của khu vực này trong những năm gần đây.

