Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển doanh nghiệp Việt

Nghị quyết số 280/NQ-CP đặt yêu cầu cụ thể hóa đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 10-NQ/TW, hướng tới xây dựng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, thu hút nguồn vốn trung và dài hạn chất lượng cao, đồng thời tăng liên kết và sức lan tỏa với nền kinh tế trong nước.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển doanh nghiệp Việt

Bộ Tài chính được giao xây dựng cơ chế hậu kiểm, đánh giá định kỳ việc thực hiện cam kết đầu tư; thu hồi ưu đãi, hỗ trợ nếu không thực hiện theo cam kết.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

8 nhóm nhiệm vụ trọng tâm

Theo Kế hoạch hành động, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhóm nhiệm vụ về đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.

Cùng với đó là nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược; đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa và liên kết với khu vực kinh tế trong nước.

Kế hoạch nhằm thể chế hóa và thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW; đồng thời xác định rõ các nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.

Qua đó, hướng tới mục tiêu để khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn, chất lượng cao cho đầu tư phát triển, tạo động lực quan trọng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.

Kế hoạch cũng đặt yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý, nhất là trong các lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, quy hoạch, xây dựng, thuế, hải quan, thương mại, cạnh tranh, ngoại hối, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, lao động, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Qua rà soát phải kịp thời phát hiện các quy định chồng chéo, không phù hợp, điều kiện kinh doanh không cần thiết; chủ động sửa đổi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi các quy định quản lý chuyên ngành, mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình phù hợp.

Việc hoàn thiện chính sách phải dựa trên đánh giá đầy đủ, toàn diện tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.

Một yêu cầu đáng chú ý là ứng dụng triệt để chuyển đổi số nhằm cắt giảm tối đa thời gian xử lý thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ pháp luật và điều kiện kinh doanh. Các cơ quan phải thực hiện liên thông, quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với chuẩn hóa quy trình, công khai, minh bạch và hậu kiểm hiệu quả.

Chính phủ yêu cầu lồng ghép Chương trình, Kế hoạch hành động phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào Chương trình, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm của các bộ, cơ quan, địa phương; chủ động bố trí, lồng ghép hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện.

Cùng với đó, xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật công bằng, minh bạch theo cơ chế thị trường trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia; không áp dụng hồi tố các quy định pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ những trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.

Tăng cường hậu kiểm, gắn ưu đãi với cam kết đầu tư

Nghị quyết yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, tránh chồng chéo, trùng lặp; đồng thời tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư.

Các trường hợp không thực hiện đúng cam kết, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên, năng lượng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, trật tự, an toàn xã hội phải được xử lý kịp thời, trong đó có việc thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng các biện pháp phù hợp.

Bộ Tài chính được giao xây dựng cơ chế hậu kiểm, đánh giá định kỳ việc thực hiện cam kết đầu tư; thu hồi ưu đãi, hỗ trợ nếu không thực hiện theo cam kết.

Đồng thời, ưu tiên các dự án có cam kết sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, đóng góp lớn cho đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo và sử dụng nhân lực Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, năng lượng và tuân thủ pháp luật.

Bộ Tài chính cũng được giao rà soát và công bố danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo hướng nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở một số ngành, lĩnh vực cần ưu tiên thu hút đầu tư; nghiên cứu đề xuất chỉ giữ lại những ngành, nghề thực sự cần hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Trong phát triển nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách cho phép các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đào tạo lao động tại cơ sở đào tạo của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước.

Xây dựng cơ chế ưu đãi cho các dự án cốt lõi

Về đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, Bộ Tài chính được giao nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ vượt trội, quy trình, thủ tục đầu tư đặc biệt và linh hoạt cho các dự án cốt lõi ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài.

Các chính sách này gắn với kết quả thực hiện cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động, gia tăng giá trị trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Bộ Tài chính đồng thời xác định tiêu chí, quy trình lựa chọn, cơ chế theo dõi và hỗ trợ đối với các dự án đầu tư chiến lược phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Đối với các địa phương, Chính phủ yêu cầu xây dựng danh mục dự án ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với tiềm năng, lợi thế, định hướng phát triển vùng và địa phương; xác định lộ trình thu hút đầu tư nước ngoài và lồng ghép trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 5 năm.

Trọng tâm là ưu tiên các dự án chất lượng cao, có khả năng lan tỏa, kết nối với doanh nghiệp nội địa trên địa bàn, qua đó góp phần phát triển các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ.

Kế hoạch hành động của Chính phủ đặt trọng tâm vào việc chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài theo số lượng sang chú trọng hơn tới chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa. Việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nhân lực, phát triển hạ tầng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước được xác định là những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao hiệu quả đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với các mục tiêu phát triển dài hạn của Việt Nam.

Thuỳ Linh

Tin liên quan