Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Thống nhất cơ chế thực hiện, đưa chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp vào cuộc sống

Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành trong một Chương trình mới đòi hỏi một cơ chế thực hiện thống nhất, đồng bộ nhưng đủ linh hoạt để phù hợp với từng địa bàn. Dự thảo Nghị định quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện chương trình đang được Bộ Tài chính xây dựng theo hướng tích hợp chính sách, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng khả năng lồng ghép nguồn lực và gắn quyền chủ động với trách nhiệm, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện, đưa chương trình mới đi nhanh vào cuộc sống.

Thống nhất cơ chế thực hiện, đưa chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp vào cuộc sống
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được thực hiện trên phạm vi cả nước. Ảnh: Lê Toàn

Giảm chồng chéo nhưng không làm mất chính sách đặc thù

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 tích hợp từ 4 chương trình trước đây được thực hiện trên phạm vi cả nước, nhưng ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo. Đối tượng thụ hưởng khá rộng, gồm xã, thôn, người dân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan; trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng kể từ thời điểm được cấp có thẩm quyền công nhận thoát nghèo.

Chính phạm vi rộng và sự đa dạng của đối tượng đặt ra yêu cầu phải có một cơ chế quản lý đủ thống nhất để tránh phân tán nguồn lực, nhưng cũng đủ linh hoạt để địa phương lựa chọn cách làm phù hợp. Đây là lý do các quy định về tích hợp chính sách, phân cấp và trách nhiệm giải trình được đặt ở vị trí quan trọng trong thiết kế dự thảo.

Dự thảo Nghị định quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 đang được Bộ Tài chính hoàn thiện xác định rõ định hướng tích hợp không đồng nghĩa với cộng gộp cơ học các chính sách, càng không phải xóa bỏ những chính sách đặc thù đang có hiệu lực.

Theo đó, dự thảo hướng đến rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, thống nhất, dễ áp dụng; tích hợp các văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung thành phần, tiêu chí nhằm giảm chồng chéo, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao hiệu lực điều hành. Cách tiếp cận này nhằm chuyển từ việc quản lý nhiều chính sách theo các đầu mối khác nhau sang một khung thực hiện thống nhất hơn.

Điểm quan trọng hơn nằm ở nguyên tắc xử lý trường hợp giao thoa chính sách. Dự thảo quy định, nếu cùng một đối tượng, cùng một địa bàn hoặc cùng một dự án, mô hình đủ điều kiện hưởng nhiều chính sách hỗ trợ có cùng nội dung thì được lựa chọn áp dụng chính sách có mức hỗ trợ cao nhất; đồng thời không thực hiện hỗ trợ, quyết toán trùng lặp cùng một nội dung từ nhiều nguồn kinh phí ngân sách nhà nước.

Quy định này tạo ra một ranh giới tương đối rõ giữa “lồng ghép” và “trùng lặp”. Lồng ghép nguồn lực vẫn được khuyến khích để phục vụ mục tiêu chung, nhưng việc lồng ghép phải bảo đảm không trùng đối tượng, nhiệm vụ chi hoặc vượt định mức, tiêu chuẩn hỗ trợ.

Về phương diện quản lý ngân sách, đây là cơ chế nhằm ngăn nguồn lực bị phân tán hoặc cùng một nội dung được ngân sách hỗ trợ nhiều lần. Về phía người thụ hưởng, nguyên tắc lựa chọn mức hỗ trợ cao nhất giúp hạn chế tình trạng phải thực hiện nhiều thủ tục để tiếp cận những chính sách có nội dung tương tự.

Quan trọng là cách xử lý này không đặt mục tiêu cắt giảm hỗ trợ một cách cơ học. Dự thảo Nghị định định hướng tích hợp trên cơ sở rà soát, kế thừa những cơ chế, chính sách phù hợp, đồng thời bảo đảm các mục tiêu, đối tượng và chính sách đặc thù tiếp tục được thực hiện theo yêu cầu của Chương trình.

Theo cấu trúc được xây dựng, các nhiệm vụ được tổ chức theo những nhóm vấn đề lớn, bao quát từ hạ tầng thiết yếu, bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất, sinh kế, việc làm và thu nhập; giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; bảo tồn và phát triển văn hóa; chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đến cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyển đổi số, kiểm tra, đánh giá và truyền thông.

Cách sắp xếp này cho phép nhìn các vấn đề phát triển trong mối liên hệ với nhau. Một địa bàn khó khăn có thể đồng thời cần hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế và văn hóa. Khi các chính sách được đặt trong một khung chung, việc phối hợp nguồn lực có điều kiện thực chất hơn thay vì mỗi chính sách được triển khai như một “phần việc” độc lập.

Phân cấp mạnh hơn, trách nhiệm cũng rõ hơn

Nếu tích hợp nhằm giải quyết vấn đề phân tán nguồn lực thì phân cấp, phân quyền nhằm giải quyết khoảng cách giữa cơ chế và thực tiễn địa phương.

Dự thảo Nghị định được xây dựng xác định tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương theo nguyên tắc “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”. Trung ương tập trung quản lý, ban hành cơ chế và thiết kế công cụ kiểm tra, giám sát; trên cơ sở tổng mức vốn được giao, địa phương căn cứ điều kiện thực tế để chủ động quyết định phương án phân bổ, lồng ghép nguồn lực nhằm đạt mục tiêu chung.

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khoá XVI đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035; Hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; Xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035; Chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.

Điểm đáng chú ý là quyền chủ động được trao trong một khung mục tiêu, đối tượng, nguyên tắc và định mức chung, chứ không phải trao quyền không giới hạn. Chính vì vậy, phân cấp trong dự thảo được đặt song song với yêu cầu về tiêu chuẩn, định mức, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Cơ chế này có ý nghĩa đặc biệt với một chương trình triển khai trên phạm vi cả nước nhưng có sự khác biệt rất lớn giữa các địa bàn. Nhu cầu của một xã miền núi, vùng biên giới hay hải đảo không giống một địa bàn nông thôn có điều kiện phát triển thuận lợi. Việc để địa phương chủ động lựa chọn phương án phân bổ và lồng ghép nguồn lực, trong phạm vi mục tiêu chung, tạo điều kiện để chính sách được điều chỉnh sát hơn với nhu cầu thực tế.

Tuy nhiên, để phân cấp không trở thành phân tán, dự thảo Nghị định đặt ra yêu cầu tăng cường công cụ kiểm tra, giám sát. Cùng với đó là việc xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung, qua đó theo dõi mục tiêu, nguồn lực, nhiệm vụ, tiến độ và kết quả thực hiện.

Việc tổ chức thực hiện được xác định cần chuyển trọng tâm từ mở rộng phạm vi, số lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Vai trò chủ thể của người dân trong tham gia và tổ chức thực hiện Chương trình được nhấn mạnh, cùng với trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu.

Như vậy, logic của cơ chế phân cấp được thiết kế theo hướng địa phương được chủ động hơn trong quyết định cách làm, nhưng phải chịu trách nhiệm rõ hơn về kết quả. Đây cũng là cơ sở để chuyển từ cách quản lý thiên về kiểm soát từng thủ tục sang kiểm soát mục tiêu, nguồn lực và kết quả thực hiện.

Để nguồn lực được đo bằng kết quả thực tế

Một điểm đáng chú ý khác là dự thảo Nghị định không chỉ đặt ra cách phân bổ nguồn lực mà còn quan tâm đến cách tổ chức thực hiện để biến nguồn lực thành kết quả.

Đối với các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, tính chất kỹ thuật đơn giản và có sự tham gia của người dân, dự thảo định hướng thực hiện theo cơ chế riêng quy định tại Chương IV Nghị định số 358/2025/NĐ-CP. Với các dự án khác, việc thực hiện tuân thủ pháp luật về đầu tư công, xây dựng, đấu thầu và các quy định pháp luật có liên quan.

Việc phân biệt hai nhóm dự án cho thấy dự thảo hướng tới mức độ quản lý phù hợp với tính chất và quy mô công việc. Những công trình nhỏ, kỹ thuật đơn giản và có sự tham gia của người dân được áp dụng cơ chế phù hợp hơn với thực tiễn cộng đồng; trong khi những dự án có tính chất phức tạp hơn vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định chung về đầu tư, xây dựng và đấu thầu.

Ở góc độ chính sách, cách tiếp cận này có thể giúp giảm những quy trình không cần thiết đối với các công trình nhỏ, đồng thời mở rộng vai trò tham gia của người dân trong lựa chọn và thực hiện các công việc gắn trực tiếp với cộng đồng.

Dự thảo Nghị định cũng đặt vấn đề đổi mới tuyên truyền theo hướng thiết thực, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng; gắn tuyên truyền với đào tạo, tập huấn cán bộ, nhân rộng mô hình, điển hình và ứng dụng truyền thông số. Đây không chỉ là yêu cầu về truyền thông mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng người dân tiếp cận và tham gia vào Chương trình.

Cùng với đó, cơ chế tổ chức được định hướng tinh gọn, hiệu quả, không làm phát sinh thêm đầu mối quản lý nhà nước và không làm tăng biên chế. Việc triển khai Chương trình cũng được định hướng chuyển từ mở rộng về phạm vi, số lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững.

Nhìn tổng thể, các quy định trong dự thảo Nghị định đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến rộng rãi cho thấy một logic chính sách khá rõ. Theo đó, tích hợp để nguồn lực không bị phân tán; quy định không trùng lặp để ngân sách không hỗ trợ nhiều lần cho cùng một nội dung; phân cấp để quyết định sát thực tiễn hơn; kiểm tra, giám sát và dữ liệu dùng chung để quyền chủ động đi cùng trách nhiệm; còn cơ chế đối với dự án nhỏ có sự tham gia của người dân nhằm đưa quá trình thực hiện gần hơn với cộng đồng.

Việc xây dựng Nghị định hướng dẫn thực hiện Chương trình đã thiết kế một cách thức quản lý nguồn lực thống nhất nhưng linh hoạt, trong đó Trung ương giữ vai trò xây dựng khung và giám sát, địa phương có thêm không gian quyết định, còn kết quả cuối cùng được nhìn từ mức độ hoàn thành mục tiêu và khả năng tạo ra lợi ích thực tế cho người dân.

Đó cũng là nền tảng để Chương trình phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 hướng tới yêu cầu cao hơn về hiệu quả sử dụng nguồn lực, không chỉ chi đúng, chi đủ mà phải tạo được kết quả đúng với mục tiêu chính sách đã đặt ra.

Trần Huyền

Tin liên quan