PGS.TS. Vũ Hùng Cường
Viện Thông tin Khoa học xã hội
Email: [email protected]
VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG QUA CÁC THỜI KỲ
Tại Văn kiện Đại hội lần thứ IX (năm 2001), KTNN được yêu cầu phát huy vai trò chủ đạo, được định vị "là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế", đồng thời đặt ra nhiệm vụ cụ thể đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là "giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật".
Văn kiện Đại hội lần thứ X (năm 2006) tiếp tục khẳng định: "KTNN giữ vai trò chủ đạo", với nhiệm vụ "là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển".
Với sự phát triển của tư duy về sở hữu, Văn kiện Đại hội lần thứ XI (năm 2011) định vị rõ hơn về vai trò của từng thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, trong đó "KTNN giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. KTNN cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân (KTTN) là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển".
Văn kiện Đại hội lần thứ XII (năm 2016) tiếp tục khẳng định "KTNN giữ vai trò chủ đạo, KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật" trong nền kinh tế nhiều thành phần, đa hình thức sở hữu ở Việt Nam.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII (năm 2021) bên cạnh tiếp tục định vị vai trò chủ đạo của KTNN "là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội", còn nhấn mạnh thêm vai trò "khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường", đồng thời, DNNN cũng được giao các nhiệm vụ cụ thể là "tập trung vào các lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế".
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV (năm 2026) khẳng định quan điểm chỉ đạo "phát huy vai trò chủ đạo của KTNN, phát triển KTTN là một động lực quan trọng nhất", với các nhiệm vụ trọng tâm "Phát triển KTNN hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế;… Xây dựng một số tập đoàn kinh tế, DNNN quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò trụ cột, tiên phong trong một số lĩnh vực quan trọng như năng lượng, công nghệ thông tin, viễn thông, công nghiệp chế tạo, công nghiệp vật liệu mới, tài chính - ngân hàng, kết cấu hạ tầng…".
QUAN ĐIỂM, TƯ DUY VÀ NHẬN THỨC VỀ NỘI HÀM CỦA VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC QUA CÁC THỜI KỲ
Vai trò chủ đạo của KTNN luôn được định vị gắn với các vai trò quan trọng tầm vĩ mô, gắn với vận mệnh của quốc gia, từ "làm lực lượng vật chất để Nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô" (Văn kiện Đại hội VIII), "là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế" (Văn kiện Đại hội IX), đến "là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội" (Văn kiện Đại hội XIII) và "bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế" (Văn kiện Đại hội XIV).
Trong quá trình vận động và đổi mới tư duy lý luận về sở hữu, việc nhiều tập đoàn KTNN, DNNN hoạt động thiếu hiệu quả, liên tục thua lỗ, mô hình quản lý lạc hậu dẫn đến yêu cầu phải đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, nâng cao vị thế và vai trò của KTTN. Phạm vi và nội hàm của vai trò chủ đạo của KTNN cũng được thu hẹp dần và tiến dần tới thông lệ quốc tế, từ việc sử dụng các DNNN như công cụ điều tiết vĩ mô (chẳng hạn kiểm soát giá), dẫn đến các tín hiệu thị trường bị sai lệch (Phùng Hữu Phú và cộng sự, 2016), nên Nhà nước thường phải có những chính sách ưu tiên đặc thù cho các DNNN, đến thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế, các DNNN là công cụ bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn bởi Nhà nước đã sử dụng chủ yếu các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ làm công cụ điều tiết vĩ mô, phù hợp với xu thế của nền kinh tế thị trường (KTTT) hiện đại, giảm thiểu sự can thiệp "sốc" của Nhà nước vào thị trường, do đó, các DNNN được đối xử bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Thực tế là trong các thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn, nhiều DNNN đã góp phần thể hiện rõ vai trò chủ đạo của KTNN, đi đầu trong cuộc chiến chống đói, nghèo và tụt hậu, là chỗ dựa để Nhà nước điều tiết nền KTTT đúng định hướng xã hội chủ nghĩa (Tô Huy Rứa, 2004). Nhìn lại những thời kỳ kinh tế thế giới và Việt Nam suy thoái, khủng hoảng, đại dịch COVID-19, thiên tai, nhờ có sức mạnh và vai trò chủ đạo của KTNN mà Việt Nam mới bảo đảm được ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần kiếm chế lạm phát, đồng thời đóng góp tích cực cho việc bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị - xã hội (Phạm Việt Dũng, 2019). Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã và đang là lực lượng chủ công, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô, phát triển kết cấu hạ tầng và góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Các tập đoàn kinh tế nhà nước (Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam) cung cấp khoảng 54% tổng công suất điện toàn quốc, sản xuất khoảng 97% lượng than sạch, trực tiếp khai thác hoặc là đối tác liên doanh sản xuất 100% dầu thô khai thác trên lãnh thổ, sản xuất trên 86% lượng điện phát vào mạng lưới. Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong lĩnh vực cảng biển, hóa dầu đã và đang tích cực ứng dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới. Một số tập đoàn, tổng công ty lớn như: Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội Viettel, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông, Tổng công ty Viễn thông MobiFone… có mặt trong 50 doanh nghiệp xuất sắc nhất của Việt Nam trong những năm qua, đang đảm trách tốt vai trò tiên phong, dẫn dắt các ngành chủ lực phát triển (Nguyễn Đức Long, 2024).
Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68- NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển KTTN với quan điểm KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia đã xóa tan mối lo ngại của việc KTTN lớn mạnh có thể làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xác định rõ nội hàm và phạm vi của vai trò chủ đạo của KTNN trong mối quan hệ với vai trò một động lực quan trọng nhất của KTTN, để sao cho không có sự chồng lấn, tác động trái chiều khi hai khu vực kinh tế này thi triển vai trò của mình.
Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN là bước tiến quan trọng về tư duy và nhận thức trong xác định cấu thành của chủ thể KTNN và nội hàm của vai trò chủ đạo của KTNN. Nghị quyết số 79-NQ/TW đã tiếp tục khẳng định, bổ sung và làm đầy đủ hơn nội hàm của vai trò chủ đạo của KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN, đó là "bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh" (Bộ Chính trị, 2026). Vai trò chủ đạo của KTNN, mà chủ thể cốt lõi là DNNN, đã được nhấn mạnh, cụ thể hóa là "tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia" (Bộ Chính trị, 2026). Với vai trò chủ đạo này, DNNN không chỉ được yêu cầu nắm giữ các lĩnh vực then chốt, "chiếm lĩnh những cao điểm chiến lược của nền kinh tế" (Tô Lâm, 2026), nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước và khai thác các nguồn lực, mà còn phải tiên phong, dẫn dắt, mở đường, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia vào mạng sản xuất, chuỗi cung ứng và thị trường của các DNNN, qua đó đảm bảo để KTTN phát huy được vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra yêu cầu KTNN phải là chủ thể kiến tạo "cuộc chơi", "sân chơi" chung. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ tỷ lệ vốn chi phối còn được giao trách nhiệm chính trị trong đầu tư cơ sở hạ tầng, đảm bảo công bằng xã hội cho các vùng sâu, vùng xa, đầu tư vào các lĩnh vực gắn với những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống người dân, góp phần ổn định xã hội nhưng khó đem lại hiệu quả kinh tế tương xứng với đầu tư nên thiếu vắng các nhà đầu tư tư nhân. Nghị quyết số 79-NQ/TW đề ra quan điểm "tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh". Có thể thấy, Nghị quyết số 79-NQ/ TW là sự bổ sung kịp thời cho Nghị quyết số 68-NQ/ TW về phát triển KTTN trong tiến trình hoàn thiện tư duy lý luận về sở hữu và vai trò của các thành phần kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, xóa tan những băn khoăn của việc có thể xảy ra bất cập, mâu thuẫn trong phân vai giữa vai trò chủ đạo của KTNN và vai trò một động lực quan trọng nhất của KTTN đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia.
ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Từ việc tổng hợp và phân tích sự vận động trong quan điểm, tư duy và nhận thức của Đảng về vai trò chủ đạo của KTNN qua các thời kỳ có thể thấy, nội hàm của vai trò này ngày càng được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường hiện đại và bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này cũng đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, đặc biệt là trong việc xác định rõ phạm vi, chức năng và cơ chế thực hiện vai trò chủ đạo của KTNN trong mối quan hệ với khu vực KTTN.
Trong bối cảnh Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW cùng đặt ra yêu cầu tái cấu trúc lại vai trò của các thành phần kinh tế, việc cụ thể hóa nội hàm vai trò chủ đạo của KTNN không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của KTNN trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị hiểu rõ và đầy đủ về cấu thành của chủ thể KTNN. Từ chỗ gần như đồng nhất hóa chủ thể KTNN là DNNN, Nghị quyết số 79- NQ/TW đã phân định rõ cấu thành của KTNN bao gồm bộ phận DNNN và bộ phận phi DNNN (bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ như đất đai, tài nguyên khoáng sản, không gian biển, không gian bầu trời, không gian ngầm, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia…) (Bộ Chính trị, 2026). Việc xác định rõ cấu thành của KTNN sẽ giúp giao trách nhiệm đúng với chủ thể cấu thành, không lẫn lộn giữa vai trò của "người chơi trực tiếp" của bộ phận DNNN với vai trò "kiến tạo cuộc chơi" của bộ phận phi DNNN, không lẫn lộn trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm chính trị của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ tỷ lệ vốn chi phối hoạt động trong lĩnh vực công ích, đảm bảo công bằng xã hội.
Thứ hai, xác định hợp lý vai trò chủ đạo của DNNN, KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN trong từng thời kỳ phát triển, xác định vai trò có giới hạn của DNNN trong định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế (Nguyễn Kế Tuấn, 2003). Trong kỷ nguyên mới, với sự lớn mạnh của KTTN, cần điều chỉnh phạm vi và nội hàm của vai trò chủ đạo của KTNN phù hợp với năng lực cạnh tranh của KTTN. Cần xác định rõ các tập đoàn KTNN, DNNN là thành phần cốt lõi của KTNN, là "người chơi trực tiếp" nắm giữ những ngành, lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh quốc gia, nắm giữ cổ phần chi phối trong DNNN hậu cổ phần hóa hoạt động trong các ngành, lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế (liên quan đến tài nguyên chiến lược, đột phá công nghệ đòi hỏi vốn rất lớn), một số mặt hàng thiết yếu có vai trò đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định và an toàn xã hội, đồng thời đảm trách vai trò chủ đạo, dẫn dắt, "bệ đỡ" cho doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia chuỗi cung ứng, mạng sản xuất và thị trường của DNNN. Cần tập trung phát triển các tập đoàn KTNN, tổng công ty nhà nước quy mô lớn với yêu cầu cao về vốn và công nghệ, có khả năng dẫn dắt sự phát triển của các ngành, lĩnh vực liên quan trong hệ sinh thái và lôi kéo sự phát triển của KTTN trong nước, cụ thể là trong các lĩnh vực: lương thực, xăng dầu; sản xuất điện; khai thác một số loại khoáng sản quan trọng (dầu khí, than, kim loại, đất hiếm…); một số sản phẩm cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin quan trọng; một số kết cấu hạ tầng quan trọng (cảng biển, đường sắt, sân bay).
Thứ ba, điều chỉnh cách tiếp cận về cổ phần hóa DNNN, trong đó, cần tập trung tháo gỡ vướng mắc về quy trình cổ phần hóa, nhất là liên quan đến vấn đề nợ, sở hữu chéo, tranh chấp tài sản, để quyết liệt thoái vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực Nhà nước không cần thiết nắm giữ, đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích để thực thi trách nhiệm chính trị, đảm bảo ổn định đời sống cho nhân dân (dịch vụ điện, nước sạch), trong các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng ở các vùng miền khó khăn, chậm phát triển để đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.
Thứ tư, với việc nắm giữ, quản lý các nguồn lực quan trọng đối với phát triển như tài sản công, các tài nguyên tự nhiên, tài nguyên hạ tầng, tài nguyên dữ liệu số quốc gia, các nguồn lực tài chính quốc gia..., bộ phận phi DNNN chịu trách nhiệm "kiến tạo sân chơi", hình thành "luật chơi", hoàn thiện thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, thuận lợi đối với mọi loại hình doanh nghiệp, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực phát triển do Nhà nước quản lý (đất đai, khoáng sản, vốn, nhân lực, công nghệ, thông tin, dữ liệu). Chính phủ và các cơ quan hoạch định chính sách cần lập các tổ công tác tiếp tục rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật chồng chéo, thiên lệch cho DNNN; ban hành các chính sách giám sát các tập đoàn KTNN, DNNN lớn không chèn ép không gian hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trong nước; ban hành các chính sách khuyến khích DNNN chủ động "mở cửa" để doanh nghiệp tư nhân trong nước có thể tham gia vào mạng sản xuất, chuỗi cung ứng và thị trường của DNNN, qua đó một mặt nâng cao được năng lực và phát huy vai trò của KTTN là một động lực quan trọng nhất, mặt khác góp phần hình thành môi trường cạnh tranh, lành mạnh hóa quan hệ công ty mẹ - công ty con trong các tập đoàn KTNN.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước, https://xaydungchinhsach. chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-79-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc-119260108154121055. htm , ngày 15/02/2026.
2. Phạm Việt Dũng (2019). Về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org. vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/815713/ve-vai-tro-chu-dao-cua-kinh-te-nha-nuoc.aspx , ngày 29/12/2019.
3. Tô Lâm (2026). Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/.
4. Nguyễn Đức Long (2024). Phân tích thực trạng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn hiện nay và một số khuyến nghị, Tạp chí Phát triển bền vững vùng, số 1 (02/2024), tr. 32-36.
5. Phùng Hữu Phú và cộng sự (đồng cb) (1996). Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm Đổi Mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
6. Tô Huy Rứa (2004). Nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Cộng sản, Số 6 (tháng 3/2004), tr. 13-17.
7. Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo (đồng cb) (2017). Nghiên cứu chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 357.
8. Nguyễn Kế Tuấn (2003). Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 75 (tháng 9/2003), tr. 12-13.
9. Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
10. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
11. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
12. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016.
13. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
14. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 4/2026 |

