Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Muốn tăng trưởng hai con số, các động lực phải cùng tăng tốc

Kinh tế Việt Nam đã khép lại nửa đầu năm 2026 với nhiều chỉ số tích cực, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, chặng đường phía trước vẫn còn nhiều sức ép. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT PT Group & Saigon Ratings cho rằng, muốn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, các động lực truyền thống và động lực mới cần được phát huy đồng bộ, đi cùng những giải pháp điều hành quyết liệt và hiệu quả.

Muốn tăng trưởng hai con số, các động lực phải cùng tăng tốc
Ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT PT Group & Saigon Ratings.

Phóng viên: Thưa ông, xin cho biết đánh giá của ông về bức tranh kinh tế Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026? Những động lực nào đang tạo nền tảng cho tăng trưởng?

Ông Phùng Xuân Minh: Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực dù kinh tế thế giới còn nhiều bất định, xung đột địa chính trị, giá năng lượng, chi phí vận tải và xu hướng bảo hộ thương mại tiếp tục gây áp lực lên chuỗi cung ứng, lạm phát và thương mại toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,8%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%. Vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61%; vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD. Đây là nền tảng quan trọng cho triển vọng kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026.

Có thể thấy, các động lực tăng trưởng tiếp tục được củng cố trong nừa đầu năm. Theo đó, đầu tư công, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và tiêu dùng vẫn giữ vai trò chủ yếu đối với tăng trưởng. Nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn được thúc đẩy, qua đó hỗ trợ các ngành xây dựng, vật liệu, logistics và tạo hiệu ứng lan tỏa sang khu vực đầu tư tư nhân.

Trong đó, sản xuất công nghiệp tiếp tục là đầu tàu của nền kinh tế. Chỉ số PMI duy trì trên 50 điểm cho thấy ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn mở rộng. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện, máy móc và thiết bị nhập khẩu.

Điều này cũng được phản ánh qua cán cân thương mại trong 6 tháng đầu năm khi chuyển sang nhập siêu 16,65 tỷ USD. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 266,52 tỷ USD, khu vực doanh nghiệp FDI chiếm gần 80%, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước tăng trưởng chậm hơn. Điều đó cho thấy công nghiệp hỗ trợ, khả năng liên kết chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng nội địa vẫn còn hạn chế.

Ở góc độ tiêu dùng, thị trường trong nước đã phục hồi nhưng chưa thật sự bứt phá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng hai chữ số, song sức mua chưa mạnh do thu nhập của một bộ phận người lao động phục hồi chậm, trong khi giá hàng hóa thiết yếu, nhà ở, năng lượng và dịch vụ tiếp tục tăng.

Phóng viên: Từ nền tảng của nửa đầu năm, ông nhìn nhận như thế nào về triển vọng kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026?

Ông Phùng Xuân Minh: Triển vọng kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026 vẫn tích cực nhờ hoạt động sản xuất được duy trì, đầu tư công có khả năng tăng tốc, dòng vốn FDI tiếp tục khởi sắc và tiêu dùng từng bước phục hồi.

Nếu các dự án hạ tầng trọng điểm được tháo gỡ về thủ tục, pháp lý và mặt bằng, dòng vốn đầu tư công sẽ tạo thêm việc làm, gia tăng nhu cầu nguyên vật liệu và mở rộng cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân.

Muốn tăng trưởng hai con số, các động lực phải cùng tăng tốc

Muốn tăng trưởng hai con số, các động lực đầu tư, sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng phải đồng thời tăng tốc. Ảnh: Internet

Bên cạnh đó, môi trường kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực và mạng lưới hiệp định thương mại tự do tiếp tục là những lợi thế quan trọng của Việt Nam. Các động lực mới như khoa học - công nghệ, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cũng đang từng bước hình thành.

Tuy nhiên, để tăng trưởng cả năm tiệm cận mức hai chữ số, GDP trong 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 11,5-12%. Đây là yêu cầu rất cao, đòi hỏi các động lực đầu tư, sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng phải đồng thời tăng tốc mà không làm gia tăng những mất cân đối kinh tế vĩ mô.

Phóng viên: Theo ông, những khó khăn và thách thức nào sẽ tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế trong nửa cuối năm?

Ông Phùng Xuân Minh: Bên cạnh những tín hiệu tích cực, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức.

Trước hết là áp lực lạm phát gia tăng. CPI bình quân 6 tháng đầu năm tăng 4,38%, vẫn nằm trong vùng mục tiêu nhưng các yếu tố gây áp lực lên giá cả đang tích tụ. Giá năng lượng, nguyên liệu, logistics và một số hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý có thể tiếp tục gây sức ép lên mặt bằng giá trong nước.

Nếu tín dụng tăng nhanh nhưng dòng vốn không được phân bổ hiệu quả vào sản xuất, kinh doanh, nguy cơ gia tăng lạm phát và hình thành rủi ro trên thị trường tài sản cần được theo dõi chặt chẽ.

Một sức ép khác là tỷ giá và lãi suất. Nếu đồng USD tiếp tục duy trì sức mạnh và các ngân hàng trung ương lớn chậm giảm lãi suất, Việt Nam có thể chịu áp lực về dòng vốn, chênh lệch lãi suất và giá hàng hóa nhập khẩu.

Tỷ giá tăng sẽ làm chi phí nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và nghĩa vụ trả nợ ngoại tệ của doanh nghiệp cao hơn. Trong khi đó, việc giảm lãi suất quá mạnh để hỗ trợ tăng trưởng có thể tạo thêm áp lực lên tỷ giá và lạm phát.

Bên cạnh đó, nhập siêu và sức cầu thế giới chưa ổn định cũng là những yếu tố cần lưu ý. Nhập khẩu tăng mạnh cho thấy nhu cầu nguyên liệu và thiết bị phục vụ sản xuất đang cải thiện. Tuy nhiên, nếu nhập siêu kéo dài, nền kinh tế có thể chịu sức ép lên cán cân thanh toán, tỷ giá và dự trữ ngoại hối.

Trong khi đó, nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu lớn vẫn thiếu ổn định. Các tiêu chuẩn xanh, thuế carbon, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và những quy định mới về môi trường đang tạo thêm rào cản đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

Ở góc độ doanh nghiệp, sức chống chịu vẫn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn về dòng tiền, thị trường đầu ra, chi phí logistics và khả năng tiếp cận tín dụng.

Xa hơn, chất lượng tăng trưởng vẫn cần được cải thiện. Kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào vốn đầu tư, lao động có chi phí cạnh tranh và khu vực doanh nghiệp FDI. Năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng vốn vẫn cần được nâng cao.

Đây là những khó khăn, thách thức mang tính dài hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.

Phóng viên: Với những thách thức cũng như triển vọng của nền kinh tế, ông nhận định như thế nào về tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2026? Theo ông, đâu là những giải pháp cần ưu tiên để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026?

Ông Phùng Xuân Minh: Chúng tôi dự báo ba kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2026. Theo đó, ở kịch bản cơ sở, GDP 6 tháng cuối năm có thể tăng khoảng 8,3-9%, đưa tăng trưởng cả năm đạt 8,2-8,6%. Đây là kịch bản có xác suất cao nếu sản xuất, dịch vụ, FDI và đầu tư công tiếp tục duy trì đà tích cực.

Ở kịch bản tích cực, GDP nửa cuối năm tăng khoảng 10-11%, giúp tăng trưởng cả năm đạt 9,1-9,7%. Kịch bản này đòi hỏi đầu tư công được giải ngân quyết liệt, xuất khẩu tiếp tục mở rộng, tiêu dùng phục hồi thực chất và lạm phát được kiểm soát.

Đối với kịch bản bứt phá, GDP nửa cuối năm cần tăng khoảng 11,5-12,5%, qua đó đưa tăng trưởng cả năm lên khoảng 10% hoặc cao hơn.

Tôi cho rằng mục tiêu này chỉ khả thi khi đầu tư công tăng tốc mạnh, công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì tăng trưởng cao, xuất khẩu không bị gián đoạn và tín dụng được đưa hiệu quả vào sản xuất, hạ tầng, công nghệ và những ngành có sức lan tỏa lớn.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, cần tập trung các giải pháp trọng tâm trong 6 tháng cuối năm.

Trước hết, cần phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tỷ giá; đồng thời đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ pháp lý cho các dự án và cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.

Thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp cũng cần được phát triển theo hướng minh bạch, gắn với nâng cao chất lượng quản trị, công bố thông tin, xếp hạng tín nhiệm và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.

Có thể thấy, triển vọng kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026 vẫn tích cực nhưng không tự động chuyển thành tăng trưởng cao. Kết quả sẽ phụ thuộc vào khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, tăng tốc đầu tư công, củng cố sức mua trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Trong ngắn hạn, Việt Nam cần khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống. Về dài hạn, nền kinh tế phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và chất lượng thể chế.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Thu Hiền (Thực hiện)
Thích

Tin liên quan

Video