Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Luật Quản lý thuế 2025: Kiến tạo môi trường thuế thuận lợi cho phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân đang đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý thuế theo hướng hiện đại, minh bạch và hỗ trợ tuân thủ. Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử và các giao dịch xuyên biên giới ngày càng mở rộng, hệ thống quản lý thuế truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả quản lý, tính công bằng và khả năng thích ứng với các mô hình kinh doanh mới. Việc ban hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình cải cách tài chính công và cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

TS. Nghiêm Thị Thúy Hằng

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Email: [email protected]

TS. Phạm Thị Thu Hồng

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Email: [email protected]

ThS.Đinh Hồng Dương

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Email: [email protected]

GIỚI THIỆU

Với nhiều quy định mới về quản lý rủi ro, chuyển đổi số, phân loại người nộp thuế và tăng cường hợp tác quốc tế về thuế, Luật Quản lý thuế 2025 được kỳ vọng góp phần giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và tạo động lực cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

NHỮNG CẢI CÁCH CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ TẠO MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI CHO PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Luật Quản lý thuế 2025 không chỉ hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đảm bảo nguồn thu ngân sách, mà còn góp phần hoàn thiện môi trường thể chế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, tăng tính minh bạch và nâng cao mức độ bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế.

Mở rộng phạm vi người nộp thuế nhằm thiết lập sân chơi bình đẳng, đảm bảo cạnh tranh công bằng cho doanh nghiệp nội địa

Luật Quản lý thuế 2025 mở rộng phạm vi người nộp thuế, bao gồm các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác (Điều 2). Trước đây, các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng được các lỗ hổng để trốn, tránh thuế, chuyển giá thì các doanh nghiệp nội địa phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ thuế, vừa phải tự gánh chi phí hành chính cao, vừa bị bào mòn biên lợi nhuận để cạnh tranh về giá, trong khi đó doanh nghiệp nội địa quy mô nhỏ và vừa chiếm phần lớn thường gặp nhiều hạn chế về năng lực quản trị nên gặp nhiều rào cản lớn để phát triển. Vì vậy, quy định này không chỉ bao quát được nguồn thu ngân sách đối với hoạt động kinh doanh xuyên biên giới, mà còn tạo môi trường cạnh tranh công bằng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp, nhà cung cấp nước ngoài.

Thiết lập hệ thống đa tiêu chí phân loại người nộp thuế nhằm tối ưu hóa nguồn lực hỗ trợ môi trường kinh doanh tư nhân

Một trong những điểm nổi bật của Luật Quản lý thuế 2025 là việc chuyển từ phương thức quản lý theo chức năng sang quản lý theo đối tượng, thông qua cơ chế phân nhóm người nộp thuế dựa trên hệ thống đa tiêu chí (ngành nghề, lĩnh vực, đặc thù, phương thức hoạt động; loại hình pháp lý, cơ cấu sở hữu; quy mô hoạt động, quy mô doanh thu, số nộp ngân sách; mức độ tuân thủ và lịch sử tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế và các tiêu chí khác) (Điều 3). Việc phân loại này là cơ sở để cơ quan thuế tối ưu hóa nguồn lực, áp dụng phương thức kiểm tra, giám sát tương thích với mức độ rủi ro của từng đối tượng. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng quản lý thuế hiện đại dựa trên đánh giá rủi ro, phân tích dữ liệu lớn và tiệm cận thông lệ quốc tế (Chuẩn mực của OECD).

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, cơ chế này giúp giảm thiểu chi phí hành chính và tạo thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh. Việc phân loại theo quy mô doanh thu và lịch sử tuân thủ cho phép cơ quan thuế áp dụng quy trình quản lý tương thích với năng lực quản trị của từng nhóm doanh nghiệp. Theo đó, những đơn vị có lịch sử chấp hành tốt sẽ được hưởng cơ chế quản lý thông thoáng, giảm tần suất thanh kiểm tra và rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính thuế. Về dài hạn, tính tự giác tuân thủ không chỉ minh bạch hóa tài chính cho doanh nghiệp mà còn nâng cao năng lực định hạng tín nhiệm, tạo lợi thế lớn khi tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng và đối tác kinh doanh.

Chuyển đổi số trong quản lý thuế góp phần giảm chi phí tuân thủ, tối ưu hóa dòng tiền doanh nghiệp

Từ năm 2026, nền tảng công nghệ số và dữ liệu lớn trở thành phương thức vận hành cốt lõi được tăng cường áp dụng trong mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. Hành lang pháp lý cho bước ngoặt này được quy định tại các Điều 18, 19, 32, 33 và 35 của Luật Quản lý thuế 2025, nhằm số hóa quy trình quản lý, đẩy mạnh thủ tục hành chính điện tử, tối ưu hóa việc trao đổi thông tin số và ứng dụng dữ liệu. Các quy định mới tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường ứng dụng công nghệ trong thu thập, xử lý dữ liệu và quản lý thông tin người nộp thuế.

Hạ tầng số mới cho phép đa dạng hóa phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế: doanh nghiệp và các tổ chức sử dụng hệ thống thông tin trực tuyến của Cục Thuế, trong khi các hộ và cá nhân kinh doanh thực hiện qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng eTax Mobile hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đặc biệt, việc áp dụng mã định danh cho từng khoản phải nộp theo quy định tại Điều 14 giúp nâng cao khả năng theo dõi, tra cứu và đối chiếu thông tin trong suốt quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.

Bên cạnh đó, công tác miễn, giảm hay hoàn thuế được định hướng tăng cường ứng dụng dữ liệu và quản lý rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ. Đồng thời, quy định mới đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người nộp thuế về kết nối, chia sẻ và bảo đảm tính đầy đủ của dữ liệu kế toán, hóa đơn điện tử, nhất là đối với hộ kinh doanh cá thể sử dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền, cơ chế liên thông dữ liệu có thể góp phần hỗ trợ việc kê khai, đối chiếu thông tin và thực hiện nghĩa vụ thuế thuận lợi hơn.

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân trên nhiều phương diện. Điện tử hóa toàn diện các thủ tục kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và miễn giảm thuế giúp giảm đáng kể thời gian và chi phí tuân thủ. Quá trình xử lý trên môi trường số cũng nâng cao tính minh bạch, khả năng truy xuất thông tin và giảm chi phí giao dịch giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. Sự kết hợp giữa nền tảng số và quản lý rủi ro hỗ trợ cơ quan thuế phân loại người nộp thuế hiệu quả hơn, từ đó áp dụng cơ chế quản lý phù hợp với mức độ tuân thủ của từng nhóm doanh nghiệp theo quy định. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, yêu cầu nâng cấp hạ tầng số cũng đặt ra thách thức về chi phí chuyển đổi, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh chưa sẵn sàng về năng lực số.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp có nhu cầu vốn lưu động lớn, việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ thuế sẽ hỗ trợ cho việc cải thiện dòng tiền và giảm áp lực tài chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, các yêu cầu mới về dữ liệu và hóa đơn điện tử tạo động lực để doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực quản trị số. Các chủ thể kinh doanh sẽ chủ động chuẩn hóa hệ thống kế toán điện tử, áp dụng phần mềm quản trị doanh nghiệp và số hóa quy trình quản lý hóa đơn, chứng từ để đáp ứng các tiêu chuẩn kết nối dữ liệu của Luật Quản lý thuế 2025.

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân trên nhiều phương diện. Điện tử hóa toàn diện các thủ tục kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và miễn giảm thuế giúp giảm đáng kể thời gian và chi phí tuân thủ. Quá trình xử lý trên môi trường số cũng nâng cao tính minh bạch, khả năng truy xuất thông tin và giảm chi phí giao dịch giữa cơ quan thuế và người nộp thuế.

Chuyển từ thuế khoán sang kê khai nhằm phát triển hộ, cá nhân kinh doanh

Luật Quản lý thuế 2025 (Điều 13) quy định việc từng bước chuyển từ cơ chế khoán sang cơ chế kê khai, nộp thuế dựa trên doanh thu thực đối với hộ và cá nhân kinh doanh. Quy định này phù hợp với định hướng tăng cường minh bạch hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Sự thay đổi về phương thức quản lý này giúp nâng cao tính minh bạch trong việc xác định nghĩa vụ thuế, đồng thời tăng cường trách nhiệm tự kê khai của người nộp thuế. Đối với các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, việc áp dụng chế độ kê khai theo doanh thu thực tế thiết lập nền tảng quan trọng để chuẩn hóa hoạt động kế toán, tài chính, từ đó khắc phục triệt để những bất cập của phương thức thuế khoán truyền thống, bảo đảm tính công bằng trong thực hiện nghĩa vụ với ngân sách.

Về dài hạn, lộ trình này là đòn bẩy thúc đẩy quá trình “chính thức hóa” khu vực kinh doanh cá thể vốn là một bộ phận cấu thành quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Việc minh bạch hóa dòng tiền và chuẩn hóa quản trị không chỉ giúp các hộ kinh doanh có thêm điều kiện để mở rộng quy mô, nâng cao tính chuyên nghiệp mà còn tạo bệ phóng vững chắc để từng bước chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp khi hội tụ đủ các nguồn lực phát triển.

Hợp tác thuế quốc tế đa chiều tạo nền tảng minh bạch môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân vươn tầm

Luật Quản lý thuế 2025 bổ sung cơ sở pháp lý rõ hơn cho hợp tác quốc tế về thuế và quản lý thuế quốc tế thông qua việc quy định các cơ chế như thủ tục thỏa thuận song phương (MAP), Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) và khung hợp tác hành chính thuế xuyên biên giới tại Điều 28-31. Những quy định này không chỉ điều chỉnh các tập đoạn đa quốc gia mà còn tác động trực tiếp, tạo hành lang bảo vệ khu vực tư nhân trong nước có hoạt động đầu tư, thương mại hoặc giao dịch xuyên biên giới trên 3 phương diện chính sau:

Thứ nhất, giảm mức độ bất định pháp lý trong giao dịch xuyên biên giới. Trước đây, các doanh nghiệp tư nhân có giao dịch liên kết thường đối mặt với rủi ro bị cơ quan thuế ấn định lại giá và truy thu thuế khi thực hiện thanh tra, hậu kiểm. Việc luật hóa chi tiết cơ chế APA (Điều 30, 31 Luật) cho phép các doanh nghiệp tư nhân chủ động đề xuất phương pháp tính giá phù hợp theo nguyên tắc giao dịch độc lập. Khi được cơ quan thuế chấp thuận bằng văn bản (APA đơn phương, song phương hoặc đa phương), doanh nghiệp tư nhân sẽ đạt được sự chắc chắn pháp lý cao hơn trong xác định nghĩa vụ thuế tại một khoảng thời gian cụ thể. Điều này giúp giảm rủi ro tranh chấp hoặc bị bị truy thu thuế bất ngờ, giúp doanh nghiệp tự tin lập kế hoạch tài chính, phân bổ lợi nhuận và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư.

Thứ hai, nâng cao chuẩn mực quản trị để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Để trở thành đối tác chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về tính minh bạch tài chính. Do đó, việc triển khai Thuế tối thiểu toàn cầu cùng các tiêu chuẩn trao đổi thông tin của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch (điểm g, h Khoản 2 Điều 30 Luật Quản lý thuế 2025) vừa là áp lực vừa là động lực khuyến khích doanh nghiệp tư nhân trong nước nâng cấp hệ thống kế toán, minh bạch hóa cấu trúc sở hữu và giao dịch, tiệm cận với các chuẩn mực quản trị tiên tiến của OECD.

Thứ ba, hạn chế rủi ro đánh thuế trùng khi đầu tư ra nước ngoài. Hiện nay, làn sóng các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam đẩy mạnh chiến lược đầu tư ra thị trường quốc tế (thông qua M&A, mở chi nhánh, xuất khẩu dịch vụ...) đang ngày càng mạnh mẽ. Dù đây chủ yếu là nhóm doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, không phải đại đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa song cơ chế này chính là bệ đỡ dài hạn cho sự lớn mạnh của khối tư nhân. Trong đó, quy định về Thủ tục thỏa thuận song phương (MAP) tại Điều 30 là công cụ pháp lý bảo vệ dòng vốn của khối tư nhân. Khi xảy ra tranh chấp về nghĩa vụ thuế giữa cơ quan thuế nước sở tại và Việt Nam, cơ quan thuế Việt Nam sẽ tham gia đàm phán song phương để giải quyết, đảm bảo doanh nghiệp tư nhân không bị đánh thuế hai lần đối với cùng một khoản thu nhập hoặc tài sản. Ngoài ra, công tác trao đổi thông tin và hợp tác nghiệp vụ xuyên biên giới còn giúp ngăn chặn các hành vi chuyển giá, trốn thuế của các đối thủ nước ngoài, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp trong nước.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ, TẠO MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI HƠN CHO KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Mặc dù Luật Quản lý thuế 2025 đã có nhiều điều chỉnh theo hướng hiện đại hóa, song trước sự phát triển nhanh của kinh tế số, các mô hình kinh doanh mới và dòng vốn xuyên biên giới, hệ thống pháp lý thuế vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Để nâng cao hiệu quả quản lý và kiến tạo môi trường kinh doanh tối ưu cho khối tư nhân, công tác hoàn thiện quản lý thuế thời gian tới cần tập trung vào một số định hướng chiến lược sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện khung quản lý thuế thích ứng với kinh tế số, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng cho khu vực kinh tế tư nhân. Các thách thức từ nền kinh tế số và tài sản mã hóa hiện nay vô cùng lớn. Theo IMF (2022) và OECD (2020), tài sản số đang tạo ra khoảng trống đáng kể trong xác định chủ thể nộp thuế, định danh giao dịch, xác định thu nhập và thiết lập cơ chế quản lý xuyên biên giới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã bắt đầu luật hóa chính sách đối với tài sản số, trong đó một số nền kinh tế đã thử nghiệm cơ chế định danh giao dịch và xác định nghĩa vụ thuế đối với tài sản số dựa trên đặc điểm sử dụng cùng mức độ rủi ro.

Tại Việt Nam, các giao dịch tài sản mã hóa và một số mô hình tài chính phi tập trung (DeFi) đang phát sinh dòng tiền khổng lồ, song khung pháp lý về định danh tài sản, quản lý giao dịch và nghĩa vụ thuế vẫn đang trong quá trình định hình. Thực tế này gây khó khăn cho việc kiểm soát doanh thu, dòng tiền và nghĩa vụ thuế đối với một số loại hình giao dịch mới. Song song đó, sự bùng bổ của thương mại điện tử xuyên biên giới, tiếp thị liên kết, livestream bán hàng và các mô hình kinh doanh dựa trên các nền tảng số tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý thuế phù hợp. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý thích ứng với kinh tế số không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý thuế mà còn là chìa khóa bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới - một yếu tố sống còn đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.

Hai là, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro nhằm giảm chi phí tuân thủ thuế cho doanh nghiệp tư nhân. OECD (2020) khuyến nghị cơ quan thuế các nước cần tăng cường tích hợp dữ liệu thời gian thực, tự động hóa việc phân tích hành vi và đưa ra cảnh báo sớm rủi ro nhằm giảm chi phí tuân thủ và hạn chế vi phạm phát sinh. Đây chính là hướng đi phù hợp đối với Việt Nam trong giai đoạn tới thông qua việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên nền tảng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Kinh nghiệm từ Australia và Singapore cho thấy, việc cơ quan thuế ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện dấu hiệu bất thường trong kê khai thuế hoặc các giao dịch khả nghi trước khi áp dụng các biện pháp xử lý hành chính mang lại hiệu quả vượt trội. Điều này không chỉ tối ưu hóa năng lực quản lý của cơ quan thuế mà còn tiết giảm đáng kể chi phí xã hội phát sinh từ hoạt động thanh tra diện rộng. Đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn hạn chế và nguồn lực quản trị và dễ mắc sai sót kỹ thuật trong kê khai, cơ chế cảnh báo sớm có thể giúp giảm thiểu rủi ro phát sinh sai sót trong kê khai. Việc chủ động nhận diện rủi ro và hỗ trợ điều chỉnh sai sót sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý, đảm bảo tính ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Về dài hạn, lịch sử tuân thủ thuế tốt sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao xếp hạng tín nhiệm, tạo lợi thế lớn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng và xây dựng uy tín với các đối tác chiến lược.

Ba là, phát triển hệ sinh thái đại lý thuế chuyên nghiệp nhằm nâng cao năng lực tuân thủ và giải phóng nguồn lực vận hành cho khối tư nhân. Hệ thống đại lý thuế là một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái quản trị thuế hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh cơ quan thuế tăng cường quản lý dựa trên dữ liệu lớn và đánh giá rủi ro. OECD (2016) chỉ ra rằng, việc phát huy vai trò của các tổ chức trung gian và tư vấn thuế chuyên nghiệp giúp giảm thiểu sai sót trong kê khai, nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện và giảm áp lực hành chính cho cơ quan thuế. Các quốc gia có hệ thống quản lý thuế tiên tiến (Úc, Hà Lan) có xu hướng tăng cường hợp tác giữa cơ quan thuế với các đại lý thuế đủ tiêu chuẩn thông qua cơ chế quản lý dựa trên mức độ tin cậy và lịch sử tuân thủ.

Tại Hà Lan, mô hình “Giám sát theo chiều ngang” (Horizontal Monitoring - HM) do Cơ quan Thuế và Hải quan Hà Lan (NTCA) triển khai đã thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược 3 bên (cơ quan thuế, đại lý thuế và doanh nghiệp) trên cơ sở minh bạch thông tin và tự kiểm soát rủi ro. Các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mô hình này thông qua đại lý thuế đủ tiêu chuẩn sẽ được áp dụng quy trình phân loại rủi ro thấp, được xử lý áp thuế, hoàn thuế nhanh chóng mà không bị giữ lại để kiểm tra, đồng thời được miễn trừ các đợt thanh kiểm tra định kỳ của cơ quan thuế tại trụ sở. Cơ chế này giúp giải phóng đáng kể nguồn lực hành chính, giúp doanh nghiệp tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tại Australia, cơ quan thuế (ATO) thực hiện phân loại các đại lý thuế dựa trên lịch sử tuân thủ và chất lượng hồ sơ họ nộp. Những đại lý thuế có mức độ tuân thủ cao được hưởng đặc quyền gia hạn thời gian nộp tờ khai và quyết toán thuế cho khách hàng của họ dài hơn so với thời hạn quy định chung của luật. ATO còn cung cấp giao diện quản lý riêng biệt “Dịch vụ trực tuyến dành cho đại lý” (Online Services for Agents). Thông qua cổng này, các đại lý thuế có thể nhìn thấy trước các tín hiệu rủi ro hoặc các khoản chênh lệch dữ liệu do hệ thống trí tuệ nhân tạo của ATO quét được trên hồ sơ khách hàng, từ đó chủ động giải trình hoặc điều chỉnh trước khi cơ quan thuế ban hành thông báo phạt chính thức.

Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo các mô hình quốc tế này để phát triển hệ sinh thái đại lý thuế theo hướng chuyên nghiệp hơn, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy đồng hành hỗ trợ. Đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh thường yếu về năng lực kế toán, pháp lý và quản trị thuế, một hệ thống đại lý thuế chất lượng chính là giải pháp hữu hiệu giúp giảm chi phí tuân thủ, triệt tiêu rủi ro pháp lý và minh bạch nghĩa vụ thuế.

Luật Quản lý thuế 2025 là một bước đi mang tính bước ngoặt, phản ánh rõ nét xu hướng hiện đại hóa thông qua các trụ cột: quản lý rủi ro, chuyển đổi số toàn diện, mở rộng cơ sở thuế và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Dù mục tiêu cốt lõi của cơ quan quản lý là nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh nguồn thu ngân sách, nhưng những cải cách then chốt này đã góp phần tạo lập một môi trường thuế minh bạch, thuận lợi và bình đẳng hơn cho khu vực kinh tế tư nhân.

Đối với doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ vừa vừa, hộ kinh doanh vận hành trong nền kinh tế số, việc cải cách phân nhóm rủi ro, số hóa quy trình nộp - hoàn thuế, minh bạch hóa nghĩa vụ tài chính và tăng cường hỗ trợ tuân thủ là những giải pháp trực tiếp giúp tiết giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của các cải cách này còn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng tổ chức thực thi, mức độ đồng bộ của hạ tầng số quốc gia, khả năng kết nối dữ liệu liên ngành và năng lực thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý thuế theo hướng lấy người nộp thuế làm trung tâm, giảm thiểu gánh nặng hành chính và giữ vững tính ổn định của môi trường thể chế là điều kiện tiên quyết để khu vực kinh tế tư nhân bứt phá mạnh mẽ, trở thành động lực phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. Australian Government. (2025). Lodgment program framework. Australian Taxation Office. https://www.ato.gov.au/tax-and-super-professionals/for-tax-professionals/prepare-and-lodge/lodgment-program-framework.
  2. Australian Government. (2025). Online services for agents. Australian Taxation Office. https://www.ato.gov.au/tax-and-super-professionals/digital-services/online-services-for-agentsj.
  3. Australian Government. (2026). ATO AI transparency statement. Australian Taxation Office. https://www.ato.gov.au/ about-ato/commitments-and-reporting/information-and-privacy/ato-ai-transparency-statement.
  4. Báo điện tử Chính phủ. (2026). Quy định phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế. https://xaydungchinhsach. chinhphu.vn/quy-dinh-phan-nhom-nguoi-nop-thue-trong-quan-ly-thue-119260203145624601.htm.
  5. Đức Việt. (2025). Luật Quản lý thuế (sửa đổi): Tạo động lực, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Thời báo Tài chính Việt Nam. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/luat-quan-ly-thue-sua-doi-tao-dong-luc-thuc-day-kinh-te-tu-nhan-phat-trien-185650.html.
  6. Huiskers-Stoop, L., & Gribnau, H. (2019). Cooperative compliance and the Dutch horizontal monitoring model. Journal of Tax Administration, 5(1). https://jota.website/jota/article/view/75/68.
  7. International Monetary Fund (IMF). (2022). Compliance risk management: Developing compliance improvement plans (Technical Notes and Manuals 21/20). https://www.imf.org/-/media/files/publications/tnm/2022/english/ tnmea2022001.pdf.
  8. Kim Tuyến. (2025). Luật Quản lý thuế (sửa đổi): Thay đổi tư duy, hiện đại hóa công tác thuế. Báo Công luận. https:// congluan.vn/luat-quan-ly-thue-sua-doi-thay-doi-tu-duy-hien-dai-hoa-cong-tac-thue-post311166.html
  9. Minh Nhật. (2025). Sửa đổi Luật Quản lý thuế: Hiện đại hóa hệ thống, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ. Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ. https://thitruongtaichinhtiente.vn/sua-doi-luat-quan-ly-thue-hien-dai-hoa-he-thong-lay-nguoi-nop-thue-lam-trung-tam-phuc-vu-73621.html.
  10. OECD. (2016). Co-operative tax compliance: Building better tax control frameworks. OECD Publishing. https://doi. org/10.1787/9789264253384-en.
  11. OECD. (2020). Tax administration 3.0: The digital transformation of tax administration. OECD Publishing. https://doi. org/10.1787/ca274cc5-en.
  12. OECD. (2020). Taxing virtual currencies: An overview of tax treatments and emerging tax policy issues. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/e29bb804-en.
  13. Quốc hội (2025). Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 6/2026

 

Nghiêm Thị Thúy Hằng - Phạm Thị Thu Hồng - Đinh Hồng Dương
Thích

Tin liên quan