ThS.Nguyễn Thị Thu
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Email: [email protected]
Nguyễn Tuấn Minh
Đại học Kinh tế quốc dân
Email: [email protected]
BỐI CẢNH NHIỀU BIẾN ĐỘNG ĐẶT RA YÊU CẦU MỚI ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
Chiến lược tài chính (CLTC) đến năm 2030 được triển khai trong một giai đoạn đặc biệt với nhiều biến động của kinh tế thế giới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột địa chính trị kéo dài, xu hướng phân cực và phân tách trong thương mại, đầu tư quốc tế gia tăng. Đại dịch COVID-19 trong những năm đầu giai đoạn đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng, suy giảm hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo áp lực lớn lên cân đối tài khóa của nhiều quốc gia. Cùng với đó, lạm phát toàn cầu tăng cao, chính sách tiền tệ thắt chặt tại nhiều nền kinh tế lớn, thương mại và đầu tư quốc tế suy yếu đã tác động đáng kể đến môi trường phát triển của các nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam.
Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang tạo ra những thay đổi căn bản trong mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị tài chính công. Điều này vừa mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả quản lý, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới thể chế, phương thức huy động và phân bổ nguồn lực tài chính.
Trong nước, nền kinh tế phải đồng thời ứng phó với những tác động bất lợi từ bên ngoài và xử lý các hạn chế nội tại tích tụ trong thời gian dài. Hoạt động sản xuất, kinh doanh, thị trường lao động, thu - chi NSNN và khả năng huy động nguồn lực cho phát triển chịu nhiều sức ép. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với chính sách tài chính không chỉ là bảo đảm kỷ luật, kỷ cương NSNN và an toàn mà còn phải đủ linh hoạt để hỗ trợ phục hồi kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Đáng chú ý, trong 2 năm cuối của giai đoạn 2021-2025, quá trình cải cách thể chế, sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và đổi mới mô hình tăng trưởng được đẩy mạnh. Những chuyển biến này đã tạo ra không gian và yêu cầu mới đối với quản lý tài chính công; đồng thời, đặt nền tảng cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030.
NHIỀU MỤC TIÊU QUAN TRỌNG VỀ TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH ĐẠT VÀ VƯỢT KẾ HOẠCH
Triển khai hiệu quả CLTC và thực hiện thành công mục tiêu tổng quát
Để triển khai CLTC, Bộ Tài chính đã đồng bộ, cụ thể hóa các mục tiêu với 8 chiến lược ngành về cải cách hệ thống thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, nợ công, thị trường bảo hiểm, thị trường chứng khoán, dự trữ quốc gia và kế toán - kiểm toán. Các chương trình hành động thực hiện CLTC đến năm 2030 và các chiến lược ngành cũng được xây dựng theo hướng xác định rõ nhiệm vụ, tiến độ, trách nhiệm và sản phẩm, tạo cơ sở để tổ chức thực hiện và theo dõi, đánh giá kết quả.
Một trong những kết quả nổi bật của giai đoạn 2021-2025 là đã cơ bản thực hiện thành công mục tiêu tổng quát của CLTC đến năm 2030: xây dựng nền tài chính quốc gia theo hướng bền vững, hiện đại và hội nhập; góp phần thúc đẩy tăng trưởng, củng cố khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia.

Huy động nguồn lực NSNN đạt kết quả tích cực
Trong lĩnh vực thu NSNN, kết quả nổi bật là khả năng huy động nguồn lực được duy trì ở mức khá cao, mặc dù nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn và đồng thời, thực hiện nhiều chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu NSNN giai đoạn 2021-2025 ước đạt khoảng 9,9 triệu tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra là 8,3 triệu tỷ đồng, gấp 1,43 lần giai đoạn 2016-2020. Tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân giai đoạn đạt khoảng 18,8% GDP, vượt mục tiêu trên 16% GDP; trong đó, huy động từ thuế, phí khoảng 14,7% GDP, cao hơn mức mục tiêu 13-14% GDP. Tỷ trọng thu nội địa đến năm 2025 đạt trên 86% tổng thu NSNN, bình quân cả giai đoạn khoảng 85% (bao gồm cả số miễn, giảm thuế, phí và một số khoản thu để hỗ trợ nền kinh tế do chịu tác động, ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan như dịch COVID-19, xung đột địa chính trị, căng thẳng thương mại...), vượt mục tiêu đề ra (85-86% tổng thu NSNN). Có thể thấy, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN vẫn cao hơn so với các giai đoạn trước đó (giai đoạn 2016-2020 là 82%; giai đoạn 2011-2015 là 68,7%); các chỉ tiêu về thu NSNN đều đạt và vượt mục tiêu đề ra.
Tỷ trọng thu từ dầu thô và thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt trên 16% tổng thu NSNN. Tỷ trọng này có xu hướng giảm so với các giai đoạn trước đó (giai đoạn 2006- 2010 là 38,3%; giai đoạn 2011-2015 là 30% và giai đoạn 2016-2020 là 17,5%). Riêng thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt mức tăng trưởng bình quân 9%/ năm, vượt 13% so với kế hoạch.
Đáng chú ý, kết quả trên đạt được trong điều kiện Nhà nước đồng thời triển khai nhiều chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân với tổng quy mô khoảng 1,1 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy chính sách tài khóa đã thực hiện tương đối hiệu quả vai trò kép: vừa huy động nguồn lực cho NSNN, vừa hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng.
Cơ cấu lại chi NSNN theo hướng ưu tiên đầu tư phát triển
Cơ cấu chi NSNN có chuyển biến tích cực. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong dự toán NSNN tăng từ 28,3% năm 2021 lên 31% năm 2025; tuy nhiên, trong điều hành thực tế đạt khoảng 33% tổng chi NSNN. Trong khi đó, tỷ trọng chi thường xuyên có xu hướng giảm dần, bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 58,5%. Đây là bước tiến quan trọng trong thực hiện cơ cấu lại chi NSNN theo hướng tăng cường nguồn lực cho đầu tư phát triển, hạ tầng và các lĩnh vực có khả năng tạo động lực lan tỏa cho tăng trưởng.
Bội chi và nợ công được kiểm soát trong giới hạn an toàn
An toàn tài chính quốc gia tiếp tục được củng cố. Bội chi NSNN bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 3,1% GDP, thấp hơn so với mục tiêu không quá 3,7% GDP. Đến cuối năm 2025, các chỉ tiêu an toàn nợ công vẫn nằm trong giới hạn Quốc hội phê duyệt, với nợ công khoảng 33,8% GDP, nợ Chính phủ khoảng 32% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 26,5% GDP. Kết quả này tạo dư địa để Nhà nước chủ động ứng phó với các cú sốc và huy động nguồn lực cho phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
Hiện đại hóa tài chính công và chuyển đổi số tạo bước chuyển quan trọng
Hệ thống quản lý thuế được xây dựng theo hướng tích hợp, thống nhất, kết nối từ đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế đến quản lý nợ, thanh tra, kiểm tra và quản lý rủi ro. Các quy trình được chuẩn hóa và thực hiện trên môi trường điện tử, góp phần nâng cao tính minh bạch và giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế.
Trong lĩnh vực hải quan, quá trình xây dựng Hải quan số, Hải quan thông minh được đẩy mạnh. Cơ chế một cửa quốc gia đã triển khai 251 thủ tục hành chính của 11 bộ, cơ quan. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung và nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang mở ra hướng phát triển mới cho quản lý hải quan hiện đại, góp phần tạo thuận lợi thương mại.
Kho bạc Nhà nước cũng có bước tiến đáng kể trong xây dựng nền tảng Kho bạc số. 100% thủ tục hành chính được cung cấp qua dịch vụ công trực tuyến toàn trình; các giao dịch với đơn vị sử dụng NSNN được thực hiện trực tuyến, góp phần rút ngắn thời gian, giảm chi phí và tăng cường tính công khai, minh bạch. Việc triển khai hệ thống thông tin ngân sách và kế toán nhà nước số hướng tới hình thành hạ tầng dữ liệu tài chính tập trung, liên thông và chia sẻ, tạo nền tảng cho đổi mới phương thức quản lý NSNN trong tương lai.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện CLTC giai đoạn 2021-2025 vẫn còn một số mục tiêu chưa đạt. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp khắc phục trong giai đoạn 2026-2030.
Trước hết, quy mô và chiều sâu của thị trường tài chính chưa đạt như kỳ vọng. Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu năm 2025 tương đương khoảng 66,8% GDP, thấp hơn mục tiêu 100% GDP; dư nợ thị trường trái phiếu bình quân giai đoạn chỉ khoảng 21,6% GDP. Thị trường chứng khoán chịu tác động mạnh từ đại dịch COVID-19, biến động địa chính trị, lạm phát và chính sách tiền tệ thắt chặt trên thế giới. Bên cạnh đó, tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và niêm yết doanh nghiệp sau cổ phần hóa còn chậm, hạn chế khả năng mở rộng quy mô thị trường.
Thị trường bảo hiểm cũng chưa đạt mục tiêu tăng trưởng đề ra. Doanh thu bảo hiểm giai đoạn 2021- 2025 chỉ tăng bình quân khoảng 7,35%/năm, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 15%/năm. Sự suy giảm thu nhập của người dân, sức cầu yếu, khả năng sinh lời đầu tư thay đổi, cạnh tranh sản phẩm và yêu cầu ngày càng cao về minh bạch thông tin là những yếu tố tác động đến kết quả này.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, tiến độ cơ cấu lại, cổ phần hóa và thoái vốn còn chậm. Đến cuối năm 2025, nhiều doanh nghiệp chưa hoàn thành đề án cơ cấu lại; kế hoạch cổ phần hóa chưa đạt tiến độ đề ra. Nguyên nhân đến từ cả yếu tố khách quan của thị trường và những hạn chế trong tổ chức thực hiện, xử lý đất đai, tài sản công, năng lực tài chính và quản trị của một số doanh nghiệp.
Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cũng còn nhiều thách thức. Việc tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ sự nghiệp công còn chậm, một phần do yêu cầu kiểm soát lạm phát, khả năng cân đối NSNN và sức chịu đựng của người dân. Điều này cho thấy cải cách tài chính công cần được tiếp tục thực hiện theo lộ trình phù hợp, kết hợp giữa yêu cầu tăng tính tự chủ với bảo đảm tiếp cận công bằng đối với các dịch vụ thiết yếu như giáo dục và y tế.
Nhìn tổng thể, những mục tiêu chưa đạt tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực đòi hỏi quá trình cải cách dài hạn và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thị trường. Do đó, vấn đề không chỉ nằm ở tiến độ thực hiện mà còn ở việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng thị trường và củng cố niềm tin của khu vực tư nhân, nhà đầu tư và người dân.
|
GIAI ĐOẠN 2026-2030: TÀI CHÍNH PHẢI TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC CHO TĂNG TRƯỞNG CAO
Giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa bản lề đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam. Mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, hướng tới tăng trưởng GDP “hai con số”, đòi hỏi chính sách tài chính phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý và phân bổ nguồn lực sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt và tạo động lực phát triển.
Theo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 (Quốc hội, 2026) dự kiến tổng mức vốn khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách trung ương khoảng 3,8 triệu tỷ đồng và vốn ngân sách địa phương khoảng 4,42 triệu tỷ đồng. Nguồn lực này được định hướng tập trung cho các dự án hạ tầng chiến lược, tạo nền tảng vật chất cho tăng trưởng dài hạn. Trong bối cảnh đó, các nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện gồm:
Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tài chính chủ động, linh hoạt nhưng phải giữ vững kỷ luật tài khóa và an toàn các cân đối lớn. Tăng trưởng cao không thể đánh đổi bằng sự mất ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, yêu cầu xuyên suốt là phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, chủ động ứng phó với rủi ro lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thị trường tài chính và nợ công.
Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế tài chính - ngân sách theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình. Phân cấp tài chính cần thực sự tạo động lực cho địa phương huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực; đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực, kỷ luật ngân sách và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, chính sách tài chính cần chủ động mở đường cho các mô hình tăng trưởng mới. Kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do và các vùng động lực cần được tiếp cận bằng các cơ chế tài chính phù hợp, có tính đột phá và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa.
Thứ tư, cần nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Trong điều kiện nhu cầu đầu tư rất lớn, nguồn lực ngân sách có giới hạn, trọng tâm không chỉ là “huy động được bao nhiêu” mà quan trọng hơn là “phân bổ vào đâu và tạo ra giá trị gì”. Đầu tư công cần tập trung vào hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, khoa học - công nghệ và các dự án có khả năng kích hoạt đầu tư tư nhân.
Thứ năm, cần phát triển mạnh hơn thị trường tài chính và các kênh huy động vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế. Việc củng cố thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và bảo hiểm không chỉ nhằm hoàn thành các chỉ tiêu quy mô mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống tài chính an toàn, minh bạch, đa dạng và có khả năng cung cấp vốn dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thứ sáu, chuyển đổi số cần được xác định là nền tảng của cải cách tài chính trong giai đoạn mới. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn sẽ tạo điều kiện chuyển từ quản lý dựa trên quy trình sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý thu, chi, đầu tư công, tài sản công và nợ công.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Tài chính (2026). Báo cáo số 404/BC-BTC ngày 01/6/2026 về đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Chiến lược tài chính đến năm 2030 trong giai đoạn 2021-2025.
- Nguyễn, Đ. C. (2023). Cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tạp chí Kinh tế Việt Nam, 18.
- Quốc hội (2026). Nghị quyết số 27/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030.
- Trương, B. T. (2023). Hoàn thiện hệ thống thuế để nuôi dưỡng nguồn thu và thúc đẩy đầu tư sản xuất kinh doanh. Tạp chí Tài chính, Kỳ 1 tháng 11, 8-12.
- Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2019). Kinh tế - tài chính Việt Nam sau 30 năm đổi mới và định hướng đến năm 2030.
| Bài đã đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in kỳ 1 tháng 8/2026 |



