• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chính sách tài khóa: Ðộng lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Hoạt động điều hành chính sách tài khóa năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại toàn cầu gia tăng, đặc biệt là việc áp dụng chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, với nhiều nhóm giải pháp khác nhau, chính sách tài khóa tiếp tục được thực hiện chủ động, chặt chẽ, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được các kết quả tích cực, nổi bật. Các giải pháp tài khóa đã trở thành động lực quan trọng hỗ trợ, thúc đẩy nền kinh tế vượt qua các khó khăn, thách thức đặt ra và đạt được mức tăng trưởng nổi bật. Trong năm 2026, các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở mức cao hơn nhưng bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế dự báo sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi việc điều hành chính sách tài khóa cần tiếp tục được thực hiện chủ động, chặt chẽ, hướng đến cả các mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài.

Trương Bá Tuấn

Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí,

Email: [email protected]

Tóm tắt

Từ khóa: Chính sách tài khóa, động lực, tăng trưởng kinh tế

Summary

The management of fiscal policy in 2025 was undertaken amid increasingly complex developments in both domestic and international economic environments, marked by heightened global trade tensions, particularly the implementation of reciprocal tariff measures by the United States. Despite these challenges, through a range of coordinated policy solutions, fiscal policy continued to be implemented in a proactive and disciplined manner, enabling Viet Nam’s economy to achieve notable and positive results. Fiscal measures have served as a critical driving force, supporting and stimulating the economy to overcome difficulties and challenges and to attain a robust growth rate. Accordingly, economic growth targets for 2026 have been set at a higher level; however, the domestic and global economic outlook is expected to remain fraught with uncertainties and challenges. This underscores the need for fiscal policy management to remain proactive and prudent, with an orientation toward achieving both short-term objectives and long-term development goals.

Keywords: Fiscal policy, driving force, economic growth

TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA VIỆT NAM NĂM 2025

Việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, nằm ngoài dự báo và chưa từng có tiền lệ. Trong nước vừa phải phải chống chịu các tác động tiêu cực từ bên ngoài, vừa phải đối phó với tình hình thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, với việc chủ động thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp khác nhau, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, quý sau cao hơn quý trước và cao hơn năm 2024 và trở thành điểm sáng nổi bật về tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 ước đạt 8,02%, các hoạt động thương mại, đầu tư của doanh nghiệp tăng cao. Cùng với đó, các cân đối lớn về kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định. Đạt được các kết quả này có phần đóng góp tích cực của chính sách tài khóa, nhất là trong việc mở rộng tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Ngay từ đầu năm 2025, các công cụ của chính sách tài khóa đã được sử dụng một cách chủ động, chặt chẽ và linh hoạt trên cả ba trụ cột: động viên nguồn lực, phân bổ nguồn lực cho phát triển và đảm bảo an ninh, an toàn tài chính nền tài chính quốc gia. Cụ thể như sau:

Về thu ngân sách nhà nước và việc thực hiện các giải pháp về thuế, phí và lệ phí hộ trợ cho tăng trưởng

Để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2025, Bộ Tài chính đã chủ động, quyết liệt tổ chức thực hiện nhiều giải pháp để đảm bảo thu đúng, thu đủ nguồn lực cho NSNN ngay từ những tháng đầu năm. Trong đó, tiếp tục ưu tiên nguồn lực để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý thuế, triển khai bắt buộc việc áp dụng hóa đơn điện tử và đẩy mạnh công tác chống thất thu ngân sách trong một số lĩnh vực có rủi ro như thương mại điện tử, chuyển nhượng bất động sản, giao dịch liên kết. Nhờ đó, kết quả thực hiện dự toán thu NSNN năm 2025 là rất tích cực. Thu NSNN đến ngày 31/12/2025 đã đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô thu NSNN năm 2025 ước đạt khoảng 20,7% GDP và là mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025.

Qua đó, tiếp tục đảm bảo nguồn lực để cân đối cho các nhiệm vụ chi NSNN theo yêu cầu đề ra cũng như trong việc xử lý các vấn đề phát sinh đột xuất như khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt. Tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tiếp tục duy trì ở mức cao, đồng thời, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu từ tài nguyên khoáng sản và thu từ hoạt động nhập khẩu.

Cùng với đó, các công cụ của chính sách thuế cũng đã được sử dụng hiệu quả để hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân mở rộng sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng cũng như trong việc ứng phó với các biến động bất lợi của tình hình kinh tế khu vực và thế giới. Với sự chủ động trong nhận diện tình hình, nhiều giải pháp hỗ trợ về thuế, phí và tiền thuê đất trong năm 2025 đã được thực hiện sớm hơn và đã kịp phát huy tác dụng ngay từ những thàng đầu năm như việc giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ; giảm mức thuế bảo vệ môi trường (BVMT) đối với xăng, dầu, mỡ nhờn.

Ngoài ra, đã chủ động trình Chính phủ điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi của nhiều nhóm hàng hóa để hỗ trợ cho xuất khẩu, giảm giá thành đầu vào cho các doanh nghiệp; kéo dài Chương trình ưu đãi thuế về thuế nhập khẩu đối với công nghiệp hỗ trợ ô tô; kéo dài việc thực hiện ưu đãi lệ phí trước bạ đối với ô tô điện chạy pin; tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế, giảm tiền thuê đất cho một số đối tượng tương tự như những năm trước đây. Tổng số miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất cho doanh nghiệp và người dân trong năm 2025 ước khoảng 250,9 nghìn tỷ đồng, trong đó, gia hạn khoảng 122 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm khoảng 128,9 nghìn tỷ đồng.

Kết quả thực hiện năm 2025 cũng như một số năm trước đây cho thấy, việc thực hiện các giải pháp về miễn, giảm một số khoản thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất với quy mô hỗ trợ lớn, phạm vi hỗ trợ rộng nêu trên đã phát huy hiệu quả tích cực, phát huy được vai trò của chính sách tài khóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như trong việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Các giải pháp hỗ trợ về tài khóa đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiết giảm chi phí thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất, dành nguồn lực để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, ứng phó kịp thời với những tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới, chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ.

Đặc biệt, việc tiếp tục thực hiện chính sách giảm 2% thuế suất thuế GTGT, giảm mạnh thuế BVMT đối với mặt hàng xăng dầu vừa giúp giảm giá thành hàng hóa, dịch vụ, kích thích tiêu dùng của người dân, vừa góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.

Cùng với đó, trong năm 2025, công tác cải cách hệ thống chính sách thuế đã đặc biệt được chú trọng, trong đó, đã rà soát và trình Quốc hội thông qua Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) số 67/2025/QH15, Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) số 109/2025/QH15 và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) số 66/2025/QH15. Các luật thuế này đã sửa đổi, bổ sung toàn diện 4 luật thuế quan trong nhất của hệ thống thuế, chú trọng đến việc thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc và yêu cầu về cải cách thuế đã được đặt ra, đó là:

(i) Nuôi dưỡng và đảm bảo nguồn thu bền vững cho NSNN;

(ii) Chính sách thuế được áp dụng thống nhất, bình đẳng, không phân biệt đối xử giũa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

(iii) Thực hiện ưu đãi thuế có chọn lọc để khuyến khích đầu tư, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và thực hiện các mục tiêu ưu tiên chiến lược của đất nước;

(iv) Góp phần bảo đảm công bằng, thực hiện điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội;

(v) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế, đồng thời có chính sách phù hợp để hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân phát triển, thúc đẩy các hộ kinh doanh chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.

Ngoài ra, để thể chế hóa các mục tiêu, định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Bộ Tài chính đã khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ để trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có một số chính sách mới, đặc thù ngoài quy định của pháp luật về thuế hiện hành lần đầu được áp dụng tại Việt Nam như miễn thuế TNCN, thuế TNDN đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; Miễn thuế TNDN cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế đối với chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này…

Về điều hành dự toán chi ngân sách nhà nước

Việc điều hành chính sách chi NSNN tiếp tục được thực hiện chủ động, chặt chẽ, chú trọng đến yêu cầu nâng cao minh bạch, công khai và trách nhiệm giải trình trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực NSNN. Chủ động rà soát, sắp xếp lại các nhiệm vụ chi NSNN, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để ưu tiên nguồn lực cho các nhiệm vụ chi quan trọng, chiến lược, các nhiệm vụ chi phát sinh trong điều hành NSNN như: chi trả hỗ trợ cho công chức, viên chức, người lao động trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, thực hiện chính sách miễn học phí.

Đồng thời, đã cân đối, bố trí đạt 3% tổng chi NSNN năm 2025 cho lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo yêu cầu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW này 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Năm 2025 đã dành khoảng 1,15 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển, cao nhất từ trước đến nay. Nguồn vốn đầu tư công được bố trí tập trung hơn, đồng thời, đã chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp để tiếp tục khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong công tác phân bổ vốn đầu tư Nguồn vốn ngân sách trung ương được tập trung cho các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, tạo ra động lực mới, không gian mới về phát triển kinh tế, khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong thực hiện giải ngân vốn đầu tư công đã thực hiện tăng cường phân cấp cho các cấp, các ngành trong lựa chọn, phê duyệt, phân bổ vốn cho dự án cụ thể. Tỷ trọng giai ngân vốn đầu tư công đạt cao và đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng góp phần đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2025.

Về cân đối ngân sách nhà nước

Cùng với việc thực hiện tốt các nhiệm vụ về dự toán NSNN, các cân đối lớn về NSNN trong năm 2025 tiếp tục được đảm bảo. Bội chi NSNN và nợ công tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ. Mức bội chi NSNN năm 2025 ước vào khoảng 3,6% GDP. Các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, bao gồm cả quy mô nợ và nghĩa vụ trả nợ, được duy trì trong giới hạn được Quốc hội cho phép. Tính đến hết năm 2025, quy mô nợ công ước vào khoảng 35-36% GDP; nợ Chính phủ ở mức 33-34% GDP, thấp hơn giới hạn được Quốc hội cho phép tương ứng là 60% và 50% GDP. Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ cuối năm 2025 ước thực hiện ở mức 19-20% tổng thu NSNN, nằm trong giới hạn cho phép của Quốc hội là 25%. Huy động vay trong nước tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong việc bù đắp cho bội chi NSNN. Đến cuối năm 2025, tỷ trọng dư nợ trong nước ước chiểm khoảng 77-78% dự nợ Chính phủ.

MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT

Kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển KT-XH năm 2025 là rất tích cực và toàn diện. Nhờ đó, tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục được mở rộng, mức sống của người dân cải thiện hơn, an sinh xã hội được đảm bảo. An ninh, an toàn tài chính được đảm bảo. Tuy nhiên, với độ mở lớn, hoạt động thương mại và đầu tư có tính tập trung cao nên nền kinh tế Việt Nam cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức xuất phát từ nhân tố bên trong cũng như bên ngoài; các yếu tố thị trường phát triển còn chưa động bộ; hiệu quả của việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực còn chưa cao… Tình hình quốc tế còn chứa đựng các nhân tố bất định, khó dự báo, đặc biệt, căng thẳng địa chính trị tiếp tục có xu hướng gia tăng, tiềm ẩn các nguy cơ ảnh hưởng đến việc thực hiện tăng mục tiêu trưởng và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Cùng với đó, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số cho giai đoạn tới cũng đang đặt ra những yêu cầu mới, thách thức hơn đối với việc phân bổ, sử dụng nguồn lực, trong đó có nguồn lực NSNN. Nhu cầu chi NSNN dự báo sẽ tiếp tục tăng cao, nhất là chi cho việc đầu tư phát triển các nền tảng cho tăng trưởng kinh tế (cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, chuyển đổi số…), thực hiện các mục tiêu về phát triển giáo dục, y tế và đảm bảo an sinh xã hội, trong khi đó, tích luỹ NSNN dành cho đầu tư phát triển còn thấp, cơ cấu thu NSNN chưa thực sự bền vững; dư địa để mở rộng, cơ cấu lại nguồn thu cho NSNN là không nhiều.

Trong bối cảnh này, để tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, xử lý được các khó khăn, vướng mắc đang đặt ra, việc điều hành chính sách tài khóa trong năm 2026 và thời gian tới cần tập trung vào các trụ cột chủ đạo sau:

Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tài khóa chủ động, linh hoạt, thận trọng, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Coi ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố cốt lõi là tiền đề quan trọng để thực hiện hiệu quả các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở tốc độ hai chữ số. Đồng thời, tiếp tục rà soát các rào cản kinh doanh, cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính không cần thiết để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, chi phí tuân thủ thấp cho doanh nghiệp, người dân, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tập trung triển khai tốt các giải pháp ưu đãi về thuế đã được bổ sung tại Luật thuế TNDN, Luật thuế TNCN, Nghị quyết số Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Qua đó, thúc đẩy các doanh nghiệp tiếp tục mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, nhất là vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo các định hướng của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, tổ chức triển khai đầy đủ, kịp thời có hiệu quả chính sách về giảm thuế GTGT, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, giảm thuế BVMT, điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh đối với thu nhập từ tiền lương, tiên công đã được Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) thông qua, nhất là chính sách giảm thuế GTGT, thuế BVMT. Đồng thời, chủ động tổng kết, đánh giá, tổng kết việc thực hiện các chính sách này trong giai đoạn vừa qua để kịp thời tham mưu cấp có thẩm quyền các giải pháp phù hợp để kịp thời hỗ trợ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và tiêu dùng của người dân trong trường hợp cần thiết, nhất là trước các biến động bất lợi của tình hình kinh tế khu vực và thế giới.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế gắn với cơ cấu lại thu NSNN, hướng tới việc xây dựng một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho NSNN, đồng thời, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, công bằng, khuyến khích đầu tư, thúc đẩy cạnh trạnh, điều tiết thu nhập hợp lý; khai thác tốt các khoản thu từ tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường; hạn chế việc mở rộng các chính sách ưu đãi thuế khi chưa có các đánh giá đầy đủ hiệu quả của chính sách và việc lồng ghép chính sách xã hội trong pháp luật thuế để bảo đảm tính trung lập của thuế, không gắn cho chính sách thuế các chức năng mà các công cụ chính sách khác có thể thực hiện hiệu quả hơn. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế về quản lý thuế trên cơ sở tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa các quy trình, thủ tục về quản lý thuế, phát triển đồng bộ dữ liệu về người nộp thuế.

Thứ tư, tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật NSNN số 89/2025/QH15; đồng thời, tiếp tục rà soát để hoàn thiện thể chế về quản lý NSNN, đầu tư công gắn với các yêu cầu về cơ cấu lại NSNN, tăng cường hiệu quả chi tiêu, trách nhiệm giải trình và công khai, minh bạch. Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại chi NSNN, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để ưu tiên phân bổ nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là cho các dự án hạ tầng, đảm bảo an sinh xã hội. Đồng thời, hoàn thiện các giải pháp để phát huy vai trò dẫn dắt, vốn mồi của nguồn lực NSNN trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài NSNN trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế gắn với việc đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy phát triển bền vững.

Thứ năm, thực hiện đồng bộ các biện pháp để đảm bảo an ninh, an toàn nền tài chính công. Tiếp tục quản lý chặt chẽ bội chi NSNN, đảm bảo việc vay nợ của Chính phủ được đặt trong mối tương quan chung với kế hoạch và khả năng trả nợ, với chi phí vay nợ và mức độ rủi ro hợp lý. Đồng thời, thực hiện có hiệu quả các giải pháp về cơ cấu lại NSNN, đảm bảo duy trì được “không gian tài khóa” đủ rộng để có thể chủ động đối phó với các biến động bất lợi của tình hình kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước trong tương lai. Nghiên cứu xây dựng báo cáo đánh giá rủi ro tài khóa quốc gia để đảm bảo quan lý chặt chẽ các rủi ro tài khóa có liên quan đến nền kinh tế. Nhận diện, đo lường đầy đủ và thực hiện quản lý chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng, vay nợ của chính quyền địa phương.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2026). Thông cáo Báo chí số 57 ngày 6/1/2026.

2. Tổng Cục Thống kê (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.

3. IMF (2026). World Economic Outlook Update, Global Economy: Steady amid Divergent Forces.

(Bài đăng Tạp chí Kinh tế - Tài chính kỳ 1 tháng 2/2026)

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết