![]() |
| Ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) |
Động lực tăng trưởng dịch chuyển giữa những cơn gió ngược của kinh tế thế giới
Phóng viên: Thưa ông, nửa đầu năm đã đi qua, trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm và nhiều tổ chức quốc tế hạ dự báo tăng trưởng, điều gì giúp Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm đầu tiên của giai đoạn 2026-2030?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Năm 2026 mở đầu trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Xung đột địa chính trị tại Trung Đông, xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, những điều chỉnh chính sách thuế quan của Hoa Kỳ và cạnh tranh công nghệ giữa các nền kinh tế lớn đã làm gia tăng đáng kể tính bất định của môi trường kinh tế toàn cầu.
Trước tình hình trên, hầu hết các tổ chức quốc tế đều điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 khoảng 0,2-0,3 điểm phần trăm, xuống còn 2,5-3,1%; tăng trưởng thương mại toàn cầu được dự báo chỉ đạt 1,5-2,5%, trong khi lạm phát tăng lên khoảng 4,0-4,4%, buộc nhiều nền kinh tế tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao. Mặc dù thỏa thuận tạm thời giữa Hoa Kỳ và Iran đã góp phần hạ nhiệt thị trường năng lượng, giá dầu Brent vẫn dao động quanh 72-75 USD/thùng, cao hơn khoảng 12% so với trước khi xảy ra xung đột, cho thấy các rủi ro địa chính trị vẫn hiện hữu.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam bước vào năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Tôi cho rằng, đây không chỉ là năm mở đầu của một chu kỳ phát triển mới, mà còn là thời điểm nhiều chủ trương lớn về hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân và sắp xếp tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ, tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Chính phủ đã có sự điều hành quyết liệt, triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và phát triển thị trường trong nước. Nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn đi vào hoạt động, sản xuất từng bước phục hồi, tiêu dùng và dịch vụ khởi sắc, trong khi các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng và khả năng kiểm soát lạm phát của Việt Nam.
Tuy nhiên, áp lực đối với nền kinh tế vẫn rất lớn khi các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần thu hẹp, trong khi mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên đòi hỏi phải hình thành những động lực phát triển mới có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. Chính trong bối cảnh đó, bức tranh kinh tế sáu tháng đầu năm 2026 trở nên đặc biệt có ý nghĩa. Điều đáng chú ý không chỉ là nền kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, mà sâu xa hơn là những tín hiệu đầu tiên của sự chuyển dịch mô hình tăng trưởng, khi công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, các cực tăng trưởng mới và sự mở rộng năng lực sản xuất đang dần trở thành động lực dẫn dắt nền kinh tế.
Phóng viên: Theo số liệu mới công bố, 6 tháng đầu năm nay GDP cả nước đạt 8,18%, ông có thể nói gì về con số này?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Tôi cho rằng điều đáng chú ý nhất của bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 không chỉ là GDP tăng 8,18%, cao hơn cùng kỳ năm trước (7,63%), mà còn ở sự chuyển dịch khá rõ trong cấu trúc tăng trưởng. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sản xuất, thì trong nửa đầu năm nay, các động lực mới đang dần hình thành trên nền tảng công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và sự tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Sự chuyển dịch đó trước hết được phản ánh qua dòng vốn đầu tư. Sáu tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 12,9%; vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% và là mức cao nhất của 6 tháng đầu năm trong nhiều năm gần đây. Đáng chú ý, 63% tổng vốn FDI đăng ký tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, khẳng định Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các dự án sản xuất quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, thiết bị công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ.
Quan trọng hơn là chất lượng dòng vốn FDI đang được nâng lên rõ rệt, trước đây phần lớn dự án tập trung vào lắp ráp và các ngành thâm dụng lao động, thì trong năm 2026, ngày càng nhiều dự án đầu tư vào sản xuất linh kiện điện tử, bo mạch, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D) và các khâu có giá trị gia tăng cao. Điều này cho thấy Việt Nam không chỉ thu hút nhiều vốn hơn, mà quan trọng hơn là đang thu hút được dòng vốn có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa cao hơn, từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Xu hướng này nhanh chóng được chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới. Sáu tháng đầu năm, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp tăng 9,86%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,23%, đóng góp 33,07% vào tăng trưởng GDP; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8%, mức cao nhất kể từ năm 2019, riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%.
Đáng chú ý là sự thay đổi trong cơ cấu ngành công nghiệp. Động lực tăng trưởng không còn chủ yếu đến từ các ngành thâm dụng lao động như dệt may hay da giày, mà chuyển mạnh sang nhóm công nghiệp công nghệ cao, góp phần mở rộng năng lực công nghiệp quốc gia.
Đằng sau những con số tăng trưởng là sự hình thành ngày càng rõ nét của mạng lưới các trung tâm sản xuất công nghệ cao trên cả nước. Bắc Ninh tiếp tục là trung tâm điện tử lớn nhất; Hải Phòng mở rộng sản xuất điện tử, ô tô và thiết bị quang học; Quảng Ninh, Ninh Bình, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh cũng thu hút nhiều dự án công nghệ cao. Đặc biệt, Thái Nguyên nổi lên như một cực tăng trưởng mới khi dẫn đầu cả nước về thu hút FDI với khoảng 7,9 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, cao nhất cả nước, chủ yếu từ các dự án quy mô lớn của Samsung trong lĩnh vực điện tử và bán dẫn.
Dù chưa tạo ra giá trị sản xuất ngay trong năm 2026, các dự án này là tín hiệu tích cực cho thấy Việt Nam đang chuyển từ thu hút FDI dựa trên lắp ráp sang các khâu có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi công nghiệp điện tử toàn cầu.
Sự chuyển dịch của khu vực sản xuất cũng được phản ánh rõ nét qua hoạt động ngoại thương. Sáu tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1%, cao gấp nhiều lần tốc độ tăng của thương mại toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0%, trong khi nhập khẩu đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4%. Điểm đáng chú ý là nhóm điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 71,16 tỷ USD, tăng tới 49,1%, trở thành nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam; trong khi nhập khẩu đạt hơn 110,07 tỷ USD, tăng 62,0%. Cùng với đó, nhập khẩu máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 34,36 tỷ USD, tăng 22,9%, phản ánh nhu cầu mở rộng năng lực sản xuất của khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI.
Có một vấn đề tôi muốn phân tích rõ, trong 6 tháng đầu năm nay, 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và nguyên, vật liệu đầu vào; hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Vì vậy, mặc dù cán cân thương mại sáu tháng đầu năm nhập siêu 16,65 tỷ USD, nhưng bản chất của mức nhập siêu này chủ yếu phản ánh quá trình tích lũy tư liệu sản xuất để mở rộng công suất và chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng mới. Đây cũng là đặc điểm thường thấy của các nền kinh tế đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa theo chiều sâu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Song song với khu vực sản xuất, khu vực dịch vụ tiếp tục đóng vai trò là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Sáu tháng đầu năm, khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14% vào tăng trưởng GDP. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt gần 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 12,9%; khách quốc tế đạt 12,3 triệu lượt, tăng 14,9%, phản ánh sự phục hồi đồng thời của tiêu dùng trong nước, du lịch và các ngành logistics gắn với quá trình mở rộng sản xuất.
Nhìn tổng thể, điểm nổi bật nhất của bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 không phải chỉ là nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn, mà là chất lượng của các động lực tăng trưởng đang thay đổi. Khi dòng vốn FDI ngày càng tập trung vào điện tử, bán dẫn và công nghệ cao; khi công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò đầu tàu; khi xuất khẩu điện tử tăng mạnh và phần lớn nhập khẩu là máy móc, thiết bị, linh kiện để mở rộng sản xuất, có thể thấy Việt Nam đang từng bước tích lũy năng lực sản xuất mới cho một chu kỳ phát triển tiếp theo.
Đây cũng chính là ý nghĩa lớn nhất của năm bản lề 2026 - năm nền kinh tế không chỉ tăng về lượng, mà đang từng bước chuyển biến về chất.
|
| Bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 không chỉ là GDP tăng tích cực 8,18%, mà còn ở sự chuyển dịch khá rõ trong cấu trúc tăng trưởng. |
Tăng trưởng cao mới chỉ là khởi đầu của một chu kỳ phát triển mới
Phóng viên: Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm là rất ấn tượng thể hiện qua rất nhiều con số ở trên, nhưng liệu những chuyển động tích cực trong nửa đầu năm nay đã đủ để đưa Việt Nam bước vào một chu kỳ tăng trưởng nhanh và bền vững hay chưa?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 là rất tích cực, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định và mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra áp lực lớn đối với công tác điều hành. Tuy nhiên, tăng trưởng cao mới chỉ là điều kiện cần, xét trong dài hạn, đây mới là nền tảng ban đầu. Điều quan trọng là phải chuyển đà phục hồi và mở rộng sản xuất hiện nay thành một chu kỳ tăng trưởng nhanh và bền vững.
Chúng ta nhìn thấy những dấu hiệu của mô hình tăng trưởng mới đã dần hình thành. Dòng vốn FDI đang chuyển mạnh sang điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao. Cùng với đó, hạ tầng chiến lược, hạ tầng logistics và hạ tầng số tiếp tục được đầu tư, tạo không gian phát triển mới cho nền kinh tế. Việc hình thành các cực tăng trưởng và hành lang công nghiệp - logistics cũng cho thấy Việt Nam đang chuyển từ phát triển theo từng địa phương sang phát triển theo vùng liên kết, qua đó nâng cao năng suất, giảm chi phí logistics và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI.
Tuy nhiên, thách thức vẫn còn lớn; giá trị gia tăng trong nước và tỷ lệ nội địa hóa của một số ngành công nghệ cao còn thấp; doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế; tiến độ một số dự án đầu tư công cần được đẩy nhanh để tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn. Đồng thời, nâng cao năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo vẫn là những yêu cầu mang tính quyết định.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, theo tôi, trọng tâm không chỉ là mở rộng đầu tư hay tăng quy mô sản xuất mà còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển kinh tế tư nhân, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số sẽ là những động lực then chốt để chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng thực chất.
Phóng viên: Sau những con số tăng trưởng ấn tượng của nửa đầu năm 2026, liệu Việt Nam đang chứng kiến một nhịp phục hồi ngắn hạn hay sự khởi đầu của một chu kỳ phát triển mới, thưa ông?
Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu: Sáu tháng đầu năm 2026 có thể chưa phải là giai đoạn nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất, nhưng đã xuất hiện nhiều dấu hiệu của một chu kỳ phát triển mới. Đó là sự chuyển dịch của dòng vốn đầu tư vào các ngành công nghệ cao; sự hình thành các cực tăng trưởng công nghiệp - logistics - đổi mới sáng tạo; năng lực sản xuất được mở rộng thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện công nghệ; cùng với sự tham gia ngày càng sâu của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu những động lực này tiếp tục được củng cố bằng cải cách thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững giai đoạn 2026-2030 hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa.
Quan trọng hơn, điểm nổi bật của bức tranh kinh tế sáu tháng đầu năm không chỉ là tốc độ tăng trưởng GDP, mà là sự chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi dòng vốn FDI được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, các cực tăng trưởng công nghệ cao được hình thành và liên kết vùng ngày càng phát huy hiệu quả, Việt Nam đang từng bước tạo dựng nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng mới với chất lượng, năng suất và sức chống chịu cao hơn trước những biến động của kinh tế thế giới.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!



